Tiểu Sử Gia Đ́nh Họ Nguyễn tại

Vĩnh Trinh Long Xuyên

(1920 – 2000)

 

Hồi Kư, Huỳnh Kim Măng

Đôi lời hồi kư

Sau đây tôi ghi chép những kỹ niệm sống của suốt một đời người, 80 năm dưới mái nhà xưa, nơi ở và nơi thờ cúng Ông Bà, qua những biến đổi không ngừng để đi đến hiện trạng đại gia đ́nh năm 2000.

Tôi ghi chép một cách trung thực những sự việc đă xảy ra trong nội bộ gia đ́nh và trong một giai đoạn bể dâu biến đổi toàn diện.

Mong rằng cái quá khứ tận nguồn cội này không bị che lấp dưới bụi thời gian.

 

 

                                                H.K.M

 

 

 

 

 

 

Tóm Lượt

Mở đầu

Giai đoạn I Hưng thịnh (1920 – 1942)

Trường làng - Học vỡ ḷng – Bà ngoại bổ thuốc Bắc tại Thốt Nốt làm thuốc tể. Gánh hát bội pha cải lương. Tát đ́a, làm mắm. Ăn học Long Xuyên – Châu Đốc (nhà in cậu Tám). Treo xoài – Đám giổ - Vai tṛ 3 cậu: Cậu Ba, Cậu Bảy, Cậu Tám.

Giai đoạn II Biến đổi (1942 - `1984)

Phật giáo Ḥa Hảo. Kháng chiến chống Pháp.

Vào chiến khu: Anh Sáu Bé, Chị Năm Quang. Du học: Măng, Cầu xuất dương đi Paris. Hồi hương, hành nghề. Anh Hai Đoàn Phú Văn thu hồi đất. Những kỹ niệm tốt đẹp, về làng ăn tôm càng nướng ở Long Xuyên. Tắm biển Vũng Tàu. Du lịch miền Trung – Tranh chấp nội bộ gia đ́nh – Anh Sáu Điển về Vĩnh Trinh – 30 tháng Tư 1975: đổ vở - Vượt biên: kết quả.

Giai đoạn III Phục hưng hay tan ră? (năm 2000 về sau)

Sự h́nh thành đại gia đ́nh họ Nguyễn trong giai đoạn mới.

Tổng kết t́nh trạng các gia đ́nh cá nhân:

Chi nhánh 1

1) Gia đ́nh anh chị Sáu Bé (Dương Văn Liêm - Nguyễn Thị Cúc)

2) Gia đ́nh chị Hai (Nguyễn Thị Điệt – Đoàn Phú Văn)

3) Gia đ́nh anh chị Ba (Nguyễn Thị Tần tự Hố - Nguyễn Văn Thín)

 

Chi nhánh 2

4) Gia đ́nh anh chị Tư (Nguyễn Thiện Cầu – Lưu Thị Điệp)

5) Gia đ́nh chị Năm (Nguyễn Thị Quang - Vỏ Văn Kền)

6) Gia đ́nh anh chị Sáu (Nguyễn Văn Điển – Kha Thị Kim Vân)

7) Gia đ́nh chị Út (Nguyễn Văn Khiêu - Nguyễn Thị Tuyết Hạnh)

Chi nhánh 3

8) Gia đ́nh Huỳnh Kim Măng - Nguyễn Thị Ngân Kiều

Chi nhánh 4

9) Gia đ́nh chú Siếu (Lệ Ngọc Mừng tự Siếu - Trần Thị Rép)

Chi nhánh 5

10)        Gia đ́nh chú thím Tống (Nguyễn Văn Tống tự Lúa - Nguyễn Thị Lệ)

11)        Gia đ́nh chú thím Thế (Nguyễn Văn Thế - Dương Kim Thuận)

Chi nhánh 6

12)        Gia đ́nh cô Dượng Nhă (Nguyễn Thị Mừng – Lê Thanh Nhă)

13)        Gia đ́nh cô Dượng Trường (Nguyễn Thị Vui – Lê Chí Trường)

14)        Chú Tấn va chú Vĩnh (Nguyễn Văn Tấn - Nguyễn Văn Vĩnh)

 

Kết luận

 

 

Mở đầu

    Cao Thị Hiệp mà tôi gọi là Bà Ngoại, là một người đàn bà phi thường. Anh Tư Nguyễn Thiện Cầu nói như vậy v́ một tay Bà đă gây dựng nên sự nghiệp gia đ́nh họ Nguyễn ở Vĩnh Trinh Long Xuyên.

    Tôi không có kỷ niệm về Ông Ngoại là Nguyễn Văn Tích, v́ Ông mất sớm khi chưa có tôi. Ông để lại một nhóm con 6 người, 3 trai 3 gái để Bà Ngoại trông nom nuôi dạy. Lúc đó người con nhỏ nhất là cậu Tám cở độ 5 hay 6 tuổi mà thôi, theo lời D́ Hai kể lại.

    Tôi nghe Cậu Ba (Nguyễn Kim Âu) nói lại, Ba Ông Ngoại là ông Nguyễn Văn Tường là người gốc miền Trung ở Quảng Ngăi. Ông vào nam lập nghiệp, dạy học, lập gia đ́nh với Bà Lê Thị Hiến ở Vĩnh Trinh cho đến nay hơn 160 năm.

    Lúc nhỏ, tôi và anh Cầu có nghe Cậu Ba tả phong cảnh Tỉnh Quảng Ngăi với nhiều chi tiết mặc dầu Cậu Ba không bao giờ có bước chân tới miền Trung. Những chi tiết đó như những nơi có núi, sông, suối nước nóng,  ..v..v...Dĩ nhiên là Cậu Ba đă ghi nhớ lúc Ông Ngoại kể lại hoặc lúc Cậu Ba nghe những người Quảng Ngăi xuôi ghe bầu vào Nam mua bán.

    Về sau địa danh Vĩnh Trinh cũng có tên là Ḅ Ót tức là một tên gốc Miên, cũng như có những tên gốc Miên khác như Gịng Kè ở vùng lân cận.

    Nói về vấn đề tên th́ hồi nhỏ tôi có tên tục (hỗn danh) là Quảng mà tôi không hiểu Quảng là nghĩa ǵ. Tôi chỉ nghe người lớn gọi tôi là Quảng Quảng, tức là tiếng chó kêu. Về sau tôi mới hiểu Quảng là tiếng đầu của Quảng Ngăi vậy.

    Tiểu sử gia đ́nh họ Nguyễn bắt đầu từ lúc tôi có khả năng ghi nhận những kỷ niệm cá nhân tức là lúc tôi mồ côi mẹ rất sớm khoảng 3 hay 4 tuổi. Tuy vậy tôi không nhớ dung nhan của mẹ ra sao. Tôi chỉ nghe D́ Sáu nói là trong các cháu gái có cô Nguyễn Thị Hoa, con Cậu Bảy là giống má tôi lắm. Trong gia đ́nh, con cháu giống Ông Bà là việc tốt cũng như tôi biết cô Nguyễn Thị Vui con Cậu Tám giống Bà Ngoại lắm.

    Bây giờ tôi có vài kỷ niệm của một đứa trẻ nhớ mẹ như lúc mẹ đau bệnh phải đi chữa trị, lại nhà một Bà bóng ở Rạch Chanh gần đó. Lúc bấy giờ người ḿnh chưa biết chữa trị bằng thuốc Tây và rất tin về cách chữa trị bằng bùa phép của Bà bÓng. Tôi cũng nhớ đám an tang của mẹ khi mẹ qua đời. Lúc đó nhầm mùa nước lụt rất lớn, phải ghép 2 chiếc ghe lường lại để đưa quan tài mẹ qua bên ruộng theo Rạch Cui, tại vị trí khu mộ hiện nay. Như vậy mộ đất của mẹ là ngôi mộ đầu tiên của khu mộ gia đ́nh. Lúc đó nước ngập mênh mông, phải dùng nhiều tấm ván chận nước mới đào huyệt được. Tôi c̣n nhớ lúc mở cửa mả ngôi mộ khi Ba tôi và tôi dắt một con gà đi ṿng quanh mộ, tôi nhớ theo sau một ông Thầy Chùa tụng kinh làm lể.

    Khi lớn lên, tôi có nhiều kỷ niệm cho thấy tôi mất mẹ và ở trong gia đ́nh bên Ngoại lâu dài, sống chung với mấy người con của Cậu Mợ Ba mà tôi yêu mến khắn khít như anh chị ruột thịt.

 

 

 

 

 

Giai đoạn I      Hưng thịnh (1920 – 1942)

    Người ta thường nói tuổi già nhớ trước quên sau, nên những ǵ đă xảy ra rất lâu cách nay hơn 6, 7 chục năm th́ tôi nhớ rất rơ. Trái lại những ǵ mới xảy ra lại hay quên, cho nên những kỹ niệm trẻ thơ của tôi lần lượt hiện lên rơ rang trong trí nhớ của tôi như mới xảy ra không bao lâu.

    Đó là những ngày tôi đi học vỡ ḷng tại trường làng với Chị Ba (Nguyễn Thị Tân) trong một dăy nhà của Đ́nh Vĩnh Trinh được gọi là “nhà việc” của Hương-Chức hội tề. Thầy giáo là Ba của anh Hai Thừa, ông là người trí thức trong làng, có chân trong ban hội-tề nên rất có uy-tín.

    Ba tôi ở Cái-Đầu thỉnh thoảng qua thăm tôi, Ba kêu tôi và chị Ba đem tập ra xem. Ba xem xong nói chị Ba là con gái mà học giỏi hơn con trai về các bài làm công-nghệ, cắt giấy màu dán h́nh của chị Ba đều lớn điểm hơn tôi.

    Một kỷ niệm trong gia đ́nh mà sự quan trọng đứng hàng đầu là công việc làm thuốc tể của Bà Ngoại. Thỉnh thoảng Bà Ngoại phải đi Thốt Nốt để bổ thuốc. Đi bằng xuồng do tôi và chị Ba bơi. Lúc đó tôi và chị Ba mới có 6 hoặc 7 tuổi ǵ đó, tôi bơi lái, chị Ba bơi mũi, bơi đi bơi về khá xa, phải mất hơn một buổi.

    Khi bổ thuốc xong tại tiệm thuốc Bắc người Tàu quen tại Thốt Nốt, bốc theo toa gia-truyền, danh tiếng rất hay của gia đ́nh, th́ Bà Ngoại xuống xuồng kêu bơi về, không được ăn hàng bánh ǵ hết.

    Bơi về, có khi bơi nước ngược, chậm hơn nên rất mỏi tay. Chị Ba bơi trước “cà rệt cà tan” lấy lệ, tôi bơi sau không nghỉ tay được. Thấy Chị Ba gát dầm nghĩ bơi, tôi sanh nạnh cũng làm như vậy. Nước ngược, xuồng lủi vô bụi tre bên bờ sông, Bà Ngoại thấy vậy không rầy la mà Bà Ngoại chỉ cười thôi. Bà Ngoại nhỏ nhẹ nói, gần tới nhà rồi con, ráng bơi them một hơi nũa là nước dâng lớn. Rồi chúng tôi cũng bơi về tới nhà.

    Công việc làm thuốc tể ở nhà rất bận rộn, phải động viên hết cả nhà cùng làm. Trước hết là phải tán thuốc thành bột thật mịn, trong một cái bàn tán bằng sắt, h́nh giống như một chiếc ghe lường nhỏ và một cái bánh xe cũng bằng sắt, dẹp và rất lớn. Khi tán th́ một người 2 chân đứng lên cốt bánh xe, 2 tay nắm chặt vào song sắt, đạp tới đạp lui bánh xe trong ḷng bàn tán, tiếng kêu ran răn.

    Khi tán xong, đem thuốc ra cho mật ong vào nhồi nhuyễn và bắt đầu viên tṛn. Vui nhất là khi mọi người xúm lại ṿ viên thuốc tể.

    Anh Tư Cầu lúc đó mới độ 4 tuổi mà cũng tham gia, công việc của anh là phải tiểu vô một vị thuốc làm bằng cỏ cú phơi khô, xấy, hạ thổ và rưới nước tiểu của con trai nhỏ vào trước khi để vô bàn tán.

    Thuốc tể làm có 2 loại: thuốc tể phong và thuốc tể bổ. Thuốc bán rất chạy, người trong làng thường đến mua v́ thuốc rất công hiệu.

    Kỷ niệm này gợi lên h́nh ảnh một gia đ́nh vui nhộn và đoàn kết dưới sự điều khiển hửu hiệu của Bà Ngoại.

Gánh hát bội của chúng tôi.

    Nhóm trẻ nhỏ chúng tôi sống một cách rất yên vui, chúng tôi có một thế giới riêng. Thế giới đó là một cái lẳm lúa đồ sộ của gia đ́nh, sườn gỗ, cột to, mái ngói, ở giữa có một bồ lúa đầy ấp gần tới nóc, chứa được hai ngàn giạ lúa, mỗi giạ 40 lít.

    Chúng tôi thật sự chỉ có 3 que: chị Ba, anh Tư và tôi. Nhưng chúng tôi qui tụ được thêm 2 que nữa ở lối xóm là anh Ba Xinh và chị Ánh (em gái của anh Tư Hư và anh Năm Bân). Thế là được 5 người, đủ số để lập một gánh hát lớn và gánh hát của chúng tôi là một gánh hát tối tân, hát bội pha cải lương.

    Chúng tôi diễn tuồng trên một cái chơng cây, lấy mùng mền làm màn, lấy bánh lái ghe vẽ hoa màu làm sơn thủy và chúng tôi mạnh ai nấy chọn tuồng của ḿnh, mang râu, vẽ mặt, đội măo, mạnh ai nấy hát rất là sôi nổi.

    Thông thường chị Ba đóng vai tṛ đào, tôi vai tướng gạnh, anh Ba Xinh trong vai vua c̣n anh Tư Cầu th́ làm binh chạy hiệu v́ anh chưa biết hát.

    Bây giờ tôi c̣n nhớ câu nói lối của anh Ba Xinh trong vai vua Đường đại khái như sau: “non Tây Kỳ phụng gáy, Vườn Thượng Uyễn hạc reo, noi Tuấn Nghiêu đức sáng hằng theo, c̣n e Kiệt Trụ gương kia thường tránh”. Xong rồi Anh truyền trước thềm bày tiệc th́ bá quan đều hả hê.

    Gánh hát của chúng tôi có một khán giả người lớn là Cậu Bảy (Nguyễn Văn Tương). Cậu đến xem hát và hỏi chúng tôi có đặt tên gánh hát chưa? Chúng tôi nói chưa, Cậu bèn đặt cho một cái tên rất kêu là “gánh ở dơ ban”.

    Một kỷ niệm khác nữa là những ngày tát đ́a làm mắm rất bận rộn. Thường mỗi năm vào mùa khô, trước hoặc sau Tết, Bà Ngoại chuẩn bị ghe lớn, chở đầy gào, giỗ và nhân công chèo lên phía ngă tư bờ ao Kinh Xáng, vùng ruộng nhà, nơi trũng thấp có nhiều đầm đ́a, đặc biệt là đ́a dài, có rất nhiều cá.

    “Đ́a dài” rộng lớn phải đặt 2 miệng gào, tát một ngày một đêm mới cạn. Công việc lúc đầu có phần chán, nhưng khi đ́a gần cạn, cá gom lại, quậy đục nước thấy ham mới tát nhanh để bắt cá.

    Có lần Bà Ngoại cho chị Ba và tôi đi theo tát đ́a, chúng tôi xách giỏ theo đường nước, ngọn gào để lượm cá. Chúng tôi gom được cả giỏ cá sặc rằn, con nào cũng lớn bằng bàn tay thật là ham.

    Nhưng bắt cá thật sự là khi nào đ́a đă cạn nước. Số lượng cá đem lên rất lớn, phải chở bằng xe ḅ ra tận bờ Kinh, nơi ghe đậu, đổ xuống đầy ghe. Cá bắt được gồm có cá lóc, cá trê, cá rô mề và cá sặc rằn, đầy khẩm ghe khi đem về.

    Về đến nhà, Bà Ngoại động viên đàn bà con gái lối xóm rất đông, xúm lại làm cá rất vui, kéo dài tới ban đêm. Mỗi lần làm như vậy, cả xóm đều có phần cá của ḿnh để ăn. Mỗi năm làm được vài lần như vậy th́ có thể sản xuất được cả chục mái dầm mắm và nước mắm, chứa dưới một bên nhà bếp để ăn cả năm. Đó là chưa kể loại cá sặc, cá lóc xẽ khô rất nhiều. Tôi nhớ Bà Ngoại rất ưa loại “khô bũng cá sặc”, loại khô này không mặn lắm và đặc biệt rất ngon.

    Lúc đó miệt vườn ruộng ở đây không có chợ búa ǵ, trong nhà phải trữ mắm ăn cả năm. Tôi nhớ món dưa mắm nấu canh là món ăn đặc biệt của Cậu Bảy nấu rất ngon, ai cũng thích nhưng phải hạn chế v́ không có nhiều. Cậu Bảy ra tiêu chuẩn là mỗi người chỉ được húp canh bằng muỗng để thưởng thức chớ không được chan cơm. Nếu không hạn chế th́ không có đủ để ăn.

    Mỗi buổi sáng trước bữa ăn, tôi thấy mợ Ba xách quăo đi một ṿng trước sân, sau nhà đem vô đầy quăo rau tươi, nào là đọt ḅ ngót, đọt mồng tơi hoặc đọt cóc, rau càng cua, cải trời,v.v. có khi đem vô măng cầu chin cây nữa. Bao nhiêu đó đủ để làm món ăn với mắm rất ngon miệng.

    Tôi c̣n nhớ có lần anh Cầu và tôi được đi nghỉ hè tại nhà D́ Dượng Hai ở Kinh Xáng Thốt Nốt. Nơi đây là một ngôi nhà ngói lẽ loi trên bờ kinh, ở giữa ruộng mênh mông, chung quanh nhà có bờ chuối bao bọc.

    D́ Hai về Vĩnh Trinh thăm nhà, rước tôi và anh Cầu đi Thốt Nốt nghĩ hè. Chúng tôi cùng đi trên một chiếc xuồng nhỏ, theo kinh Bà Chiêu, bơi xuyên qua một vùng ruộng vắng vẽ. Kinh Bà Chiêu có đoạn dầy đặt bông lục b́nh, bít hết lối đi, phải rẽ một đường nước xuyên qua rất khó khăn.

    Tới nhà D́ Dượng Hai, chúng tôi có một người bạn cùng lứa tuổi là anh Sáu Bé (Dương Văn Liêm) con của D́ Dượng. Ở đây chúng tôi quanh quẫn ở trong nhà, mỗi ngày, bắt chim se sẽ con để nuôi, hoặc ra sân th́ có bàn ông Thiên, chung quanh có trồng bong móng tay.

    Kỷ niệm đáng nhớ ở đó là khi D́ Hai đăi chúng tôi một bữa tiệc bánh tằm, bánh xếp thật ngon, ăn quên thôi. Bánh xếp th́ có bánh mặn bánh ngọt, bánh tằm th́ ṿ tay, cọng to như đũa tre, khi ăn cho nước cốt dừa bồng con vào, chỉ có vậy thôi mà về sau không khi nào tôi ăn bánh tằm ngon bằng dịp này.

    Chúng tôi ở nhà D́ Dượng Hai mấy tuần lể mà không thấy chán, rồi D́ Hai cũng đưa chúng tôi về Ḅ Ót (Vĩnh Trinh).

    Chuyến này đi bằng ghe tam bản có mui và có anh Sáu Bé đi theo. Ư của D́ Hai là muốn cho anh Sáu Bé ở Vĩnh Trinh học trường làng với chúng tôi, nhưng lúc D́ Hai sửa soạn đi về Thốt Nốt th́ không thấy anh Sáu Bé đâu nữa. Chừng t́m khắp nơi mới thấy anh Sáu Bé trốn dưới sạp ghe để theo về Thốt Nốt.

    Cậu Bảy thấy vậy nói lớn lên kêu đem lại một ấm nước sôi, đến chế xuống sạp ghe để anh Sáu chui ra và bị bắt ở lại. Nhưng việc đó không thành và anh Sáu không ở lại Vĩnh Trinh.

    Tôi lớn lên hạnh phúc trong cái nôi ấm cúng  gia đ́nh cho đến lúc phải đi học xa ở Long Xuyên. Ba tôi cho tôi ở trọ nhà một người bà con ở Cải Sơn, học tiểu học ở Tàm Bót cách đó không xa. Tôi ở đó đi học 2 năm, sống cuộc đời lam của trẻ con, thi bằng tiểu học xong và được đi Châu Đốc ở nhà in cậu Tám (Nguyễn Văn Khương) để tiếp tục học tiểu học.

    Châu Đốc, cậu Tám vừa mới lập nhà in năm 1929, và khi tôi lên đó th́ gặp lại bộ 3 trở lại là anh Sáu Bé, anh Tư Cầu và tôi.

    Tôi tiếp tục học tiểu học, lớp nh́ năm thứ nhất (cours moyen lère année) ở đó 4 năm cho đến hết tiểu học. Chúng tôi có thêm một người bạn trai nữa là chú Hai Quư (Nguyễn Văn Phát) con cậu Hai Quyễn, người trong đại gia đ́nh ở Vĩnh Trinh.

    Chúng tôi hợp lại thành một lũ 4 đứa tiểu quỹ lém lỉnh, khó dạy, ở chung với vài người thợ nhà in, tất cả đều ồn ào, khó chịu thế mà cậu Tám đă dung túng được, thật đáng nễ. Lúc đó cậu Tám c̣n độc thân, không nghiêm khắc lắm, nhưng có khi cậu răng dạy chúng tôi bằng những trận đ̣n đích đáng.

    Bây giờ tôi nhớ lại, thành kính ghi ơn cậu Tám đă đùm bọc chúng tôi đi học xa nhà, trường tỉnh Châu Đốc. Anh Cầu cũng công nhận cậu Tám là thành phần tối tân của gia đ́nh họ Nguyễn, người có công “phá lũy tre xanh đă rào bó những gia đ́nh thu cựu trong sự thất học, để mỡ đường cho con cháu lập thân.

    Tôi có rất nhiều kỷ niệm trong 4 năm ở nhà in cậu Tám, đại khái là con đường núi dài 4 cây số chạy dọc bờ kinh, từ chợ đến núi Sam; mùa khô nước cạn, chúng tôi lội kinh ṃ cá rô, đi ruộng bắt dế, mùa nước cỏ màu xanh, chúng tôi vào tum đâm cá nhái, thật là thích thú.

    Con đường núi Sam chúng tôi thuộc ḷng. Ngày chúa nhật, chúng tôi rong bộ, bẻ me keo; đi đến chân Miếu Bà, leo lên đỉnh núi nh́n 4 phương, ruộng phẳng mờ mịt, bao la thật là vĩ đại.

    Dù sao chúng tôi cũng xa nhà cho nên trông cho mau hết năm học, đến ngày 14 juillet xem lễ xong, hôm sau chúng tôi về Vĩnh Trinh nơi tổ ấm. Năm nào mợ Ba cũng trông anh Cầu và tối về và mặc dầu mùa xoài đă quá, nhưng mợ Ba không hái hết trái những cây xoài quanh nhà. Mợ Ba ra lệnh treo xoài trên cây chờ chúng tôi về, dù cho xoài thanh ca đen đă chín cây rụng khá nhiều, nhưng vẫn c̣n một phần bẻ xuống đem vú că căn nhà.

    Không biết anh Cầu c̣n nhớ hay không, có một lần chúng tôi cũng leo lên cây hái xoài, anh leo lên cao, hụt tay té xuống, khi rơi ngang giỏ xoài treo lũng lẳng, anh quơ tay nắm rỗ, nặng quá rỗ cũng rớt luôn. May thay người bẽ xoài nhanh tay vớ anh Cầu nắm lại được. Hú hồn, chúng tôi xanh mày mặt, xuưt chút nữa có tai nạn lớn.

    Chúng tôi ưa xoài lắm, mỗi lần ăn chúng tôi ngồi trên vơng, để một cái thau kế bên để bỏ vơ và hột xoài, ngồi ăn no mới thôi, ngừng buông dao đứng dậy … không nổi.

    Một dịp khác rất long trọng và đông đảo trong gia đ́nh là ngày giổ lớn. Đó là ngày cúng cơm hàng năm, không những trong phạm vi giới hạn gia đ́nh mà c̣n một dịp tụ hợp rất đông người, bà con ở trong làng đến dự.

    Ngày giổ được chuẩn bị trước khá lâu. Phía nữ có D́ Mợ và các chị gói bánh, gói nem. Phía nam, chúng tôi lo lau chùi bàn thờ, đánh bong đèn sáng chói.

    Ngày giổ, bà con gần đến trước, bà con xa và người tai mắt trong làng đến sau. Khi mọi người tề tựu đông đủ và thức ăn đă bầy đầy 3 bàn thờ th́ Bà Ngoại và Cậu Ba bắt đầu lễ cúng, lên đèn, thấp nhang, khấn vái rất uy nghi tôn kính. Kế đó là lễ lạy Ông Bà: người lớn lạy trước, D́ Mợ ăn mặt chỉnh tề lạy sau, sau cùng là sấp nhỏ, chúng tôi phải đứng đợi tới phiên ḿnh. Tất cả đều tham dự nghiêm chỉnh trên một bầu không khí trang nghiêm của tục lệ thờ cúng Ông Bà. Việc đó đă ghi một ấn tượng mạnh vào tâm tư của tôi, và đó cũng là sợi dây nối tiếp của nhiều thế hệ gia đ́nh.

    Sau cùng là tiệc ăn. Các món ăn thật hấp dẫn được dọn trên 2 bộ ngựa một bên, và bên kia là các bàn tṛn có ghế ngồi dành cho khách. Sau đó mọi người đều được mời nhập tiệc theo ngôi thứ rất chu đáo.

    Tôi để ư có nhiều thứ rượu được mở nút, trong đó có rượu chat đỏ, rượu công xi (công ty) hoặc rượu đế chớ không có la de. Măi về sau mấy chục năm tôi mới thấy người ḿnh tiêu thụ la de nước đá và rượu mạnh như Martel và Perrier.

    “Rượu vào và lời ra”, việc ăn uống náo nhiệt diễn ra rất vui vẽ. Câu tṛ chuyện cũng sôi nổi, rặm đám nhứt là khi có giọng nói của cậu Ba Tuân, Ba của chị Hai Phụng.

    Nhà cậu Ba Tuân ở trong rạch nhỏ, cậu phải cởi trâu băng ruộng ra đây ăn giỗ. Cậu Ba (Ba của anh Cầu) nói là cậu Ba Tuân đa sự, nói dông dài. Cậu Ba Tuân không thua, nói nữa không dứt.

    Thế rồi mọi việc đều kết luận và ngày giỗ gia đ́nh chấm dứt tốt đẹp.

    Sau đây tôi nói về vai tṛ của 3 người cậu.

    Cậu Ba, cậu Bảy và cậu Tám trong sự sinh hoạt ḥa thuận của gia đ́nh, dưới sự điều hành nhẹ nhàng của Bà Ngoại.

    Cậu Ba (Nguyễn Kim Âu tự Mân) là trưởng nam của Ông Bà Ngoại nên có địa vị cao hơn hết sau Bà Ngoại. Cậu lo việc điều hành gia đ́nh, tiếp tay Bà Ngoại trong việc trưng thu lúa ruộng, lo việc thờ cúng Ông Bà và giao tiếp với bên ngoài. Cậu là người tôi kính trọng và nể sợ hơn hết v́ cậu rất nghiêm. Măi về sau tôi mới hiểu được cậu là người rất thương mến con cháu.

    Cậu Bảy (Nguyễn Kim Tương) là người cậu bậc Cha Mẹ mà tôi thấy gần gũi hơn hết. Cậu rất vui tính và có bản chất khôi hài hiếm có. Cậu là người không có nhiệm vụ ǵ rơ rệt trong gia đ́nh nên cậu có phần nào phóng khoáng. Tôi nghe người ta khen cậu là người thông minh xuất chúng v́ có một lần trong nhà đặt mua một cái đồng hồ treo hiệu Westminster lớn có đu treo (balancoire) mà cậu mỡ ra và tháo hết bộ phận máy móc, xong cậu ráp lại y như cũ và cho chạy rất đúng.

    Cậu tám (Nguyễn Văn Khương) tôi có nói cậu Tám là người trí thức tân tiến của gia đ́nh. Cậu ở xa nhà và có công lớn đem một đám con cháu từ vùng quê lên tỉnh thành ở nhà in Cậu tại Châu Đốc để ăn học lúc cậu c̣n độc thân và đến khi cậu lập gia đ́nh rồi c̣n nuôi đợt anh Sáu Điễn và anh Út Khiêu nữa.

Kết luận giai đoạn I

    Bây giờ tôi nhận thấy là thời kỳ hưng thịnh nhứt của gia đ́nh thuộc những năm trước 1937, lúc Bà Ngoại c̣n sanh tiền. Trong thời đó, khắp nơi miệt đồng ruộng vùng đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế của thế giới. Lúa sụt giá chỉ c̣n hai cắc một giạ (0.20$) nên nhiều chủ điền bị phá sản. Họ mang nợ không trả nổi nên bị chủ nợ là chà và tịch thu ruộng để bán đấu giá.

    Tôi nghe cậu Ba nói là Bà Ngoại đă tránh khỏi trận khủng hoăng kinh tế đó nhờ sự cần cù lao động trong gia đ́nh, trái lại Bà Ngoại c̣n mua thêm được ruộng bán đấu giá lúc đó.

    Theo tôi tính đơn giăn th́ lúa ruộng trung b́nh lúc đó là khoảng 2 giạ trên một công đất, mà bồ lúa của Bà Ngoại có thể chứa được 2 ngàn giạ, tức là Bà Ngoại có độ một ngàn công ruộng hay 100 mẫu ruộng (mỗi mẫu 100m X 100m). Theo đó th́ Bà Ngoại không phải là đại điền chủ mà là địa chủ bực trang vậy.

    Nên nhớ lúc đó nước chúng ta c̣n là thuộc địa của Pháp và chúng ta ở trong giai đoạn yên ổn làm ăn nên chúng ta có một cuộc sống thanh b́nh đầy đủ vậy.

    Bà Ngoại mất năm 1938, thọ 71 tuổi. Lúc đó tôi đang học tại trường trung học Collêge de Cần Thơ. Tôi được nghĩ phép về chịu tang Bà Ngoại. Linh cữu Bà Ngoại quàng tại nhà trong một tuần lễ, đó là đám tang lớn trong vùng.

    Tới lúc động quan, linh cữu Bà Ngoại đă được chuyển để trước lẩm lúa để cúng. Đây là một cách ghi nhớ công lao Bà Ngoại. Rồi linh cữu được đưa qua bên ruộng, khá xa khu mộ rạch cui hiện nay.

    Tôi nghĩ rằng mộ Ông Bà Ngoại ở xa ngoài ruộng. Trên ruộng nhà, đó là một cách cho thấy chiều rộng của đất. Bây giờ chúng ta thăm mộ phải đi qua một quăng xa, ngang ruộng của người khác, đó là một sự thay đổi của thời cuộc.

 

 Giai đoạn II         Biến đổi (1942 – 1984)

    Khởi đầu từ năm 1942, sau khi Bà Ngoại mất th́ thời cuộc bắt đầu sôi động.

    Đạo Phật Giáo Ḥa-Hăo dưới sự lănh đạo của giáo chủ Huỳnh Phú Sỗ thời sự lan rộng rất nhanh: đó là sự nổi dậy của giai cấp nông dân.

    Người nông dân, từ nhiều đời, làm ruộng, tay lắm chân bùn, có tiếng là hiền từ chất phát, giờ đây có thể trở thành cuồng tính, hiểm nguy. Họ làm chủ vùng nông thôn các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc và Cần Thơ nên việc giao lưu với các nơi đó trở nên khó khăn.

    Phong trào Kháng chiến chống Pháp bắt đầu từ năm 1945. Đây là phong trào bao quát, lớn rộng từ Nam chí Bắc. Sinh viên, học sinh bỏ học, nắm chánh quyền.

    Giặc Pháp, sau khi loạt người Nhựt ra khỏi Đại Nam Á, đem lực lượng quân sự trở lại áp đặt sự ổn định nơi thành thị đông dân.

    Một lực lượng có tổ chức chỉ huy từ lâu, dưới sự lănh đạo của Hồ Chí Minh, đă ra mặt nắm quyền Kháng chiến và loạt các thành phần quốc gia, lập chiến khu ở vùng nông thôn thừa dân. Trong sự tranh chấp đảng phái, Đảng Cộng Sản giết hại giáo chủ Huỳnh Phú Sỗ của Phật Giáo Ḥa Hăo.

    Trong sự nhiễu nhường của thời loạn, đời sống mong manh của những gia đ́nh địa chủ người miền Nam đă bị ảnh hưởng nặng nề, có thể nói gia cấp này đă bắt đầu tan ră.

    Gia đ́nh họ Nguyễn cũng như những gia đ́nh khác, có con cháu ăn học ít nhiều, đă phân tán mỗi người đi mỗi ngă.

    Theo thứ tự trong gia phả, tôi nói lên trường hợp đầu tiên là anh Sáu Bé (Đương Văn Liêm) con của D́ Hai ở Thốt Nốt. Nhắc lại nhóm học sinh ở nhà in cậu Tám Châu Đốc, sau khi rời trường tỉnh đă tiếp tục đi học xa nhà ở Cần Thơ. Anh Sáu Bé khi c̣n là học sinh đă nhập bọn với nhóm học sinh thân Cộng ở Long Xuyên (tôi nghĩ là vậy) và anh đă tự động vào chiến khu Cái Sắn rất sớm.

    Đó là năm 1947, anh quá giang xe chở hàng của tôi và anh bạn Lê Công Kiệt cho người bạn là Phước thuê chở hàng đi Rạch Giá và anh đă xuống xe tại Cái Sắn để vào chiến khu.

    Kể từ đó tôi mất liên lạc với anh cho đến 30 tháng Tư năm 1975, tôi mới gặp lại anh ở Sài G̣n. Lúc đó anh ta là cán bộ của chánh quyền Cộng Sản gởi anh từ miền Bắc vào Nam tiếp thu, phụ trách ngành xuất khẩu. Về sau tôi mới biết được anh vào chiến khu và kết hôn với chị Nguyễn Thị Cúc, con ông Nhiều, giáo sư nhạc ở Cần Thơ. Anh chị tập kết ra Bắc (1954) và sau đó được chánh quyền Hà Nội gởi đi công tác tại các nưóc Xă Hội Chủ Nghĩa (Cộng Sản) ở Đông Âu.

    Người thứ hai trong gia đ́nh là chị Năm Nguyễn Thị Quang (con cậu Ba). Chị là người thuộc phía Kháng chiến nhưng chị không ở trong chiến khu. Thỉnh thoảng chị vào chiến khu Bến Tre thăm chồng là Vơ Văn Kềm, chiến sĩ quốc gia (tôi nghĩ là như vậy), chỉ huy trưởng bộ đội kháng chiến. Chị ở thành phố Long Xuyên, nuôi 2 con nhỏ là Vơ Thanh Sơn và Nguyễn Thị Thủy. Con trai lớn là Vơ Thiên Châu th́ được tập kết ra Bắc và được chánh quyền Bắc nuôi dưỡng. Sau 30 tháng 04 năm 1975, cháu Châu trở về Nam với cấp bực chuẩn úy thủy quân, công tác khá lâu trong chánh quyền.

    Chồng chị Năm nói trên là chiến sỉ tử trận ở Bến Tre (năm nào tôi không biết) trong trường hợp rất mờ ám. Theo sự kẻ lại của anh Hai (Đoàn Phú Văn) th́ sau một trận chiến thắng quân Pháp, quân ấy đă rút lui. Chỉ huy trưởng bộ đội là Vơ Văn Kềm hiên ngang đứng trên bờ lũy th́ một viên đạn vô t́nh đă hạ anh, viên đạn đó từ đâu đến? Không ai biết được.

    Trên đây là 2 trường hợp người gia đ́nh theo kháng chiến. Số c̣n lại là anh Cầutôi là 2 người trí thức không đảng phái mà Cộng Sản gọi là trí thức yêu nước.

    Sau khi chúng tôi rời nhà in cậu Tám xuống Cần Thơ đi học và sau đó lên Sài G̣n ở nhà cậu Hai Tỹ tiếp tục học th́ đó là một giai đoạn dài 6 năm mà chúng tôi xa gia đ́nh.

    Việc xa gia đ́nh là đương nhiên, khi chúng tôi lớn lên và bắt đầu bay nhảy, lăn lóc ngoài đời. Học kiến trúc là con đường duy nhất của tôi, từ Hà Nội lên Đà Lạt và sang Pháp không thay đổi. Tôi gặp lại anh Cầu năm 1949 tại Paris, anh Cầu học xong nghề in và sắp sữa về Việt Nam, tôi th́ ở lại Pháp thêm 9 năm nữa, vừa đi làm, vừa đi học, có đời sống gia đ́nh, măi đến năm 1958 sau khi tôi đă tốt nghiệp Kiến Trúc Sư và Thiết kế đô thị tại viện Đại Học Pháp th́ tôi mới hồi hương.

    Tôi về nước dưới thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và được bổ nhiệm vào ban Giáo Sư Trường Cao Đẳng Kiến Trúc. Trường kiến trúc sau đổi thành Phân Khoa Đại Học Kiến Trúc viện Đại Học Sài G̣n.

    Việc đầu tiên của tôi là về Long Xuyên thăm gia đ́nh ở Vĩnh Trinh sau hơn 10 năm xa cách. Kỹ niệm đầu tiên là khi tôi gặp cậu Ba ở Voi Đ́nh khi tôi qua cầu để về nhà. Tôi gặp cậu Ba ở đó, cậu Ba khóc, khóc đứa con lưu lạc đă trở về gia đ́nh sau bao nhiêu năm biến đổi.

    Tôi cũng không cầm được giọt lệ, thấy cậu Ba tôi thương quá, bây giờ cậu Ba đă già yếu, sống im lặng trong một canh nhà vắng vẽ, con cháu đi phân tán nhiều nơi. Hoàn cảnh thật khác xưa, chỉ c̣n lại mảnh t́nh thương là một cái ǵ thiêng liêng bất diệt.

    Nhà thờ lớn c̣n đó nhưng trông thấy cũ kỹ hơn xưa. Lẫm lúa không c̣n nữa, chỉ c̣n lại một nền gạch trống trơn, cảnh xưa đă thay đổi.

    Tôi tiếp tục thăm D́ Dượng Sáu, D́ Dượng sống trong một canh nhà ngói nhỏ, bên kia với Đ́nh, nhà bằng vật liệu c̣n lại của lẩm lúa. D́ Dượng sống với 3 đứa cháu nội nhỏ, con của chú Siêu.

    Tôi đi Châu Đốc thăm cậu Tám, Mợ Tám đă mất, cậu Tám ở vậy nuôi 6 con, 4 trai và 2 gái. Cậu Tám c̣n khoẻ mạnh và ham hoạt động lắm. Cậu có nhiều cơ sở nuôi cá và bắt cá rất hứa hẹn.

    Những ngày tôi về Châu Đốc rất là vui, chợ Châu Đốc đông hơn xưa nhiều, việc mua bán rất thạnh hành, náo nhiệt.

    Trong giai đoạn tới (1958 – 1975) dài 17 năm là một thời gian phong phú nhứt trong đường đời của tôi. Đó là thời gian tôi hành nghề lập thân, có đời sống cá nhân ổn định và cũng là thời gian mà tôi làm được nhiều việc có ảnh hưởng lớn trong hướng phát triễn của gia đ́nh họ Nguyễn.

    Đường đời của tôi có 2 việc quan trọng: đó là hành nghềgiảng dạy.

    Về phương diện hành nghề th́ 17 năm hoạt động không phải là một thời gian trung b́nh của một nghề mà đó là một thời gian thu ngắn. Vấn đề nghề nghiệp th́ tôi có thể tự hào là không thua kém ai v́ trong 3 cuộc thi kiến trúc tổ chức lúc đó mà tôi dự thi 2 cuộc th́ tôi trúng tuyễn hạng nhất cả 2 lần; đó là 2 cuộc thi vẽ đồ án chợ Bến Thành do ṭa Đô Chánh tổ chức và cuộc thi đồ án Ngân Hàng Khuếch trương kỷ nghệ do Bộ công chánh tổ chức.

    Vấn đề chợ Bến Thành th́ không có người đầu tư thực hiện v́ thời cuộc bấp bênh, c̣n vấn đề ngân hàng khuếch trương kỷ nghệ th́ đă được khởi công cả năm trước 1975.

    Việc hành nghề của tôi, khi kiểm điểm lại th́ không phải là một sự thành công tốt đẹp. Về vấn đề tay nghề th́ tôi không thua kém ai, nhưng đối với vấn đề kinh doanh và sự hợp tác với đồng nghiệp th́ tôi rất kém và luôn bị thiệt tḥi về quyền lợi. Đối với tôi, những vấn đề đó không quan trọng nhưng đó là một khuyết điểm của nghề nghiệp.

    Về phương diện giảng dạy ở trường Đại Học Kiến Trúc th́ tôi giữ chức vụ Phó Khoa Trưỡng Đại Học 2 nhiệm kỳ cho đến năm 1975. Sau khi Cộng Sản nắm chánh quyền th́ tôi được giữ lại trong chức vụ chủ nhiệm Bộ Môn Quy Hoạch cho đến khi tôi về hưu và xuất cảnh sang Bỉ.

    Công việc giảng dạy của tôi có thể nói là trong sáng v́ đó không ngoài sự tận tâm đào tạo của tôi đối với các thế hệ kiến trúc sư trong tương lai.

    Trong lúc tôi đi định cư tại Bỉ, tôi có dịp du lịch sang Hoa Kỳ và gặp lại rất nhiều môn đệ của tôi tại nhiều nơi. Chúng nó tiếp đăi tôi hết sức chu đáo, một ḷng kính thầy cũ đúng với truyền thống tốt đẹp “tôn sư trọng đạo” của Việt Nam.

    Trong những năm 1960, sau khi tôi hồi hương là thời gian mà gia đ́nh họ Nguyễn gặp nhiều sự biến đổi nội bộ rất quan trọng.

    Có phải một vận may hay không mà anh Hai Đoàn Phú Văn (con rể cậu Ba) nhờ một người bà con có địa vị quan trọng trong Phật Giáo Ḥa-Hăo can thiệp để những người nông dân trong đạo trả đất ruộng lại cho gia đ́nh cậu Ba. Nhờ vậy mà anh chị Hai mới trở về ở nơi nhà cũ ở Vĩnh Trinh. Anh tiếp thu đất, đào ao, lên bờ, làm ruộng trở lại rất chuyên cần v́ đó là sở trường của anh. Đó là một tia sáng của sự hồi sinh gia đ́nh họ Nguyễn sau những biến cố của thời cuộc.

    Sự sống đă trở lại, vui tươi nơi chốn cũ. Tôi nhớ là có mời một nhóm bạn thân về quê chơi trong mùa nước đỗ. Nhóm đó gồm anh chị Mạnh, anh chị Thái, anh chị Tuyến và anh chị Tâm, tất cả đều là bạn thân của anh Cầu và tôi.

    Đêm đó anh chị Thái và tôi cùng bà xă nghỉ tại Vĩnh Trinh, những người khác tạm trú nơi nhà quen tại Long Xuyên, anh chị Cầu bận việc không về được.

    Trong lúc yên nghĩ, anh Hai ở ruộng về, anh cho biết là trong hệ thống rọ anh đặt nơi Rạch Cui, cá Linh về rất nhiều. Anh Thái nghe nói sợ quá, nhơm dậy hỏi anh Hai có phải Việt Cộng về nhiều hay không? (anh Thái là người Bắc di cư nên sợ Việt cộng lắm). Chừng anh biết đây là nơi cá Linh chạy rọ chớ không phải nói Cộng Sản anh mới an tâm.

    Sáng hôm sau chúng tôi trở lên Long Xuyên dự một bữa tiệc tôm càng nướng tại vườn Ông Hỉ ở ngoại ô thành phố (ông Hỉ là thầu khoáng, cho tôi mượn nhà vườn của ông).

    Tôm càng th́ có chị Hai, chị Năm Quang và bà xă tôi mua mấy thùng đầy (mỗi thùng 20 lít) tại miệng đáy sông Hậu Giang, tôm càng nướng lữa than vàng cháy thơm ngon, ăn với rau thơm và bún. Bữa tiệc thật là vui vẽ, náo nhiệt và độc đáo.

    Những kỹ niệm vui như vậy không có bao nhiêu. Bây giờ trở lại thực tế. Công việc làm ăn của anh Hai bắt đầu mở rộng. Anh đào ao, đấp bờ, mua máy cày, trữ phân và làm rẫy trên đất nhà. Kết quả ra sao chưa thấy, nhưng gia đ́nh cậu Baphản ứng mạnh. Các anh chị con cậu Ba lấy lư do là anh Hai làm ăn quá trớn, vượt quá khả năng của ḿnh nên gây áp lực, buộc anh Hai phải ngưng việc và giao ruộng lại cho gia đ́nh. Chị Hai cũng về phía gia đ́nh và gây gổ với anh Hai. Tất cả những việc đó đều diễn ra dưới sự giám định ở trên của cậu Ba.

    Đây là một vấn đề nội bộ của gia đ́nh trưởng tộc, nhưng thử nghĩ nếu anh Hai không thu hồi đất ruộng trong tay Ḥa-Hăo th́ gia đ́nh lấy ǵ để buộc tội anh Hai? Biện pháp này có quá khắt khe đối với anh Hai hay không?

    Về sau con cháu trong gia đ́nh gọi đó là một cuộc đảo chánh, nó làm cho anh Hai thất vọng suốt đời và sự bất ḥa giữa anh chị Hai cho đến chết cũng không hàn gắn được.

    Một biến chuyển quan trọng khác trong gia đ́nh là việc anh Sáu Điển về Vĩnh Trinh ở trong phủ thờ vào năm 1970. Đó là cái quyền của gia đ́nh trưởng tộc khi gia đ́nh chuyển quyền thừa kế hương quả từ người con trai này qua người con trai khác. Như vậy việc hưởng quê lợi đất hương hỏa đề lo việc thờ cúng Ông Bà từ anh Cầu chuyển qua anh Sáu Điễn là việc tốt, hợp lẽ phải. Anh Sáu đă đem lại sự yên ổn và tồn tại gia đ́nh cho đến ngày 30 thang 4 năm 1975 và sau nữa cho đến bây giờ, năm 2000.

    Mọi việc đều trôi qua, ruộng đất thu hồi trong tay Ḥa Hăo mà gia đ́nh buộc anh Hai ngưng canh tác th́ gia đ́nh đem giao lại cho tá điền cũ đề lấy lúa ruộng.

    Kế đó là luật “người cày có ruộng” của chánh quyền Nguyễn Văn Thiệu đă chánh thức thừa nhận chủ quyền của nông dân canh tác. Như vậy th́ ruộng đất mà gia đ́nh đă lấy lại đă mất đi một lần nữa qua tay người khác. Cái vận may của gia đ́nh nói ở trên khi anh Hai thu hồi đất ruộng đă mất đi thật sự.

    Có thể đây là cái vận mệnh đă an bài cho gia đ́nh họ Nguyễn, nhưng cái vận mệnh đó đă xếp đặt việc chuyển hướng gia đ́nh gọi là “mất đất c̣n người” mà tôi xin tŕnh bày sau đây.

    Tôi xin kể một câu nói bất hủ của Ông Ngoại bảo với các con như sau: “Ba không phải là người giàu có nhiều tiền của để cho các con, nhưng ba sẽ cho các con ăn học đến nơi đến chốn, thành tài và đó là cái vốn cá nhân, bất khả xâm phạm hay truất hữu được”. Và đó cũng là cái truyền thống của xă hội Việt Nam, tức là cái xă hội khoa bảng, nễ trọng học tṛ giỏi.

    Giai đoạn tiến than của thế hệ 4 gia đ́nh trong thời gian tới, dài khoảng 15 năm (1960 – 1975) dă chuyển hướng từ gia đ́nh địa chủ trung lưu trở thành gia đ́nh trí thức tân tiến đúng với cái ư nghĩa “mất đất c̣n người”.

    Cái truyền thống trí thức này bắt đầu từ cậu Tám ở Châu Đốc (Nguyễn Văn Khương), cậu là người trí thức tân tiến của gia đ́nh đă có công phá lũy tre xanh đưa chúng tôi vào con đường học vấn như đă nói.

    Tôi có một kỹ niệm tốt đẹp là khi tôi về Châu Đốc thăm cậu Tám sau khi chú Tấnchú Lực thi đỗ cán sự kiến trúc, việc này làm cậu Tám rất vui và tôi cũng vui dạ v́ tôi tự thấy ḿnh đă trả ơn được phần nào đối với cậu Tám.

    Việc nâng đỡ con cháu trong gia đ́nh học kiến trúc là phận sự đương nhiên của tôi, nhưng học được hay không là do sự cố gắng cá nhân của từng người.

    Tôi nhớ là trong lúc học, cháu Nguyễn Văn Đoàn, con anh chị Ba, thường bị tôi “cà khịa”. Tôi nói: “mày nên học luật tốt hơn v́ mày không có năng khiếu về kiến trúc”. Nhưng cháu Đoàn vẫn kiên nhẩn đeo đuổi học kiến trúc cho tới khi tốt nghiệp. Hơn nữa Đoàn c̣n giúp đỡ người vợ là Đào Huệ Chi thi đậu kiến trúc sư sau 1975.

    Về sau, với sự kinh nghiệm trong nghề nghiệp, tôi nghĩ rằng cái ư chí của Đoàn là đúng, v́ một người kiến trúc sư thành công không phải nhờ đơn thuần vẽ hay mà c̣n phải có nhiều đức tính khác như xă giao chẳng hạn. Sau 30 tháng 04 năm 1975, Đoàn làm việc đắc lực trong sở xây dựng Thành Phố và cuối cùng đă vượt biên thất bại. Đoàn và vợ cùng 2 con nhỏ  đă bị nạn mất tích tại vùng biển G̣ Công, thật đáng thương. Tôi nghĩ là nếu Đoàn c̣n sống th́ cháu sẽ làm nên chuyện trên đường đời.

    Thiên hồi kư này có thể thiếu sót nếu tôi không kể những kỹ niệm vui, những cuộc du ngoạn xa gần, những cuộc tham quan danh lam thắng cảnh của miền Nam Việt Nam mà tôi có dịp đi chung với các thành phần lớn nhỏ trong gia đ́nh.

    Đối với những người lớn tuổi như cậu Ba, D́ Sáu th́ tôi mời đi nghỉ mát tại Vũng Tàu hoặc Đà Lạt. Đối với những thành phần cùng lứa tuổi th́ tôi rủ đi du lịch xa và nhiều ngày hơn như Rạch Giá, Hà Tiên hoặc Phan Thiết, Nha trang chẳng hạn. Khi có nhiều trẻ em th́ chúng tôi đi tắm biển ở Vũng Tàu hoặc Long Hải. Đi lần nào cũng ghé Long Thành mua đồ biển, ṣ huyết, ốc len và thịt rừng như thịt nai, thịt heo rừng, có khi mua được sâu đuông trong bắp dừa. Đời sống có thể nói là thoải mái đầy đủ và vui tươi.

    Tôi có kỹ niệm khó quên là lần chúng tôigia đ́nh anh chị Cầu đi du lịch một ṿng lớn Miền Trung vào dịp Tết năm 1964. Chúng tôi lên Đà Lạt, xuống Tháp Chàm, qua Cà Ná, Quăng Nam, Ba Ng̣i và nghĩ ở Nha Trang.

    Chúng tôi đi Tuy Ḥa ăn nem, uống nước dừa, về Bến cầu đá Nha Trang thuê thuyền suốt ngày đi biển, ghé ḥn Chồng cùng ngư dân ăn Tết đánh bạc thật là thích thú.

    Chuyến về chúng tôi ghé Phan Thiết ăn cơm. Lúc đó cháu Thúy c̣n nhỏ, biết đi lẵm đẫm. Vô tiệm ăn, chúng tôi không thấy cháu Thúy ở đó, xem lại th́ cháu đi đâu mất. Chúng tôi tá hỏa, chia nhau đi t́m cháu Thúy.  Chị Tư bù lu bù loa, vừa khóc vừa t́m con. Cuối cùng cháu Công t́m được Thúy, cháu đi lạc khá xa. Tất cả đều vui mừng, hú hồn, thiếu chút nữa là họa to. Chuyến đi này kết thúc êm đẹp.

    Tôi có một nhà nghỉ mát nhỏ trên núi lớn Vũng Tàu gần chùa hang, có tầm nh́n ra biển, thấy băi trước, băi sau rất đẹp. Vài 2 tuần chúng tôi ra nghỉ một lần xă hơi, tắm biển, câu cá.

    Tô nhớ năm 1968, Tết Mậu Thân, Việt Cộng tổng tấn công, tôi bị kẹt ở đó 3 ngày. Đó cũng là ngày đáng nhớ trong gia đ́nh v́ ngày rằm tháng Giêng cậu Ba mất ở Vĩnh Trinh, ấy là ngày giổ cậu Ba.

    Tôi rất thích câu cá, đây là sở thích bẩm sinh v́ lúc c̣n nhỏ tôi được tiếng là uốn lưỡi câu rất khéo. Sở thích đó trở thành một giải trí trong đời tôi và nhờ đó mà tôi thoát khỏi đi học tập căi tạo sau 30 thang 04 năm 1975.

    Số là sau khi Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam, với chức vụ Phó  Khoa Trường Đại Học, tôi bị Việt Cộng bắt tập trung đi học tập căi tạo. Nói là học tập căi tạo, nhưng thật sự là đi vào trại tù. Tôi được giấy gọi tập trung nhưng v́ mê đi câu nên tôi đợi đến ngày chót mới đi tŕnh diện. Tôi bị tập trung tại Trường nữ trung học Gia Long một đêm, hôm sau có lịnh cho về v́ thiếu trại tù và phải chờ giấy gọi kỳ tới.

    Trong lúc chờ lịnh mới, có giáo sư Nguyễn Văn Kiết, bộ trưởng giáo dục của chánh phủ Giải Phóng miền Nam (ông cũng là thầy dạy Pháp Văn của tôi ở trường trung học Collège de Cần Thơ).

    Ông Nguyễn Văn Kiết ra lịnh tha hết Khoa Trưởng và Phó Khoa Trường Đại Học khỏi phải đi học tập căi tạo. Về sau tôi biết được những Khoa Trưởng đă tŕnh diện các đợt trước đều bị đi học tập căi tạo. Vậy có phải nhờ thú đi câu mà tôi tránh khỏi trại tù hay không?

    Kỹ niệm đi câu tôi có nhiều, nhưng tôi xin kể thêm một chuyện có liên quan với gia đ́nh như sau. Năm đó tôi có về ăn Tết ở Long Xuyên, ở nhà anh chị Hai ở đường Cái Sơn. Ngày mồng 2 tôi ra nghề, xách cần câu xuống bờ sông Hậu, nơi nhà máy xay lúa của người bạn là Út Phương tôi dựt đưọc một con cá bông lau rất lớn, dài một thước, phải vận chuyển khá lâu anh Hai mới xúc vào vợt được. Đêm đó chị Hai nấu một nồi cháo cá lớn, cả nhà ăn hả hê. Tôi nhớ là cậu Tám chung vui nữa.

    Đời sống vàng son đó chấm dứt ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đây là ngày đen tối của lịch sử Việt Nam. Việt cộng ồ ạt kéo binh vào cưỡng chiếm Miền Nam. Tất cả đều đổ gẫy, chấm dứt.

    Tôi nhớ một ngày trước khi quân đội Cộng Sản tràn vào, tôi và anh Cầu ngồi trước sân nhà tôi ở làng Đại Học Thủ Đức, chúng tôi ưu tư, lo lắng, nh́n ra xa lộ vắng hoe, không người qua lại, chúng tôi than thở: “quang cảnh c̣n đó không thay đổi, chỉ có con người sẽ đổi thay”.

    Phản ứng tức khắc của dân chúng là di tản. Nhiều làn sóng người ồ ạt, chen lấn, di tản, nhưng không phải ai cũng có phương tiện di tản. Phản ứng kế tiếp là vượt biên. Hàng triệu người không muốn sống dưới chế độ Cộng Sản, liều chết vượt biên để t́m tự do.

    Sau đây tôi xin tŕnh bày những vụ vượt biên trong gia đ́nh họ Nguyễn. Những vụ vượt biên này có 3 loại: một là vượt biên tốt số, hai là vượt biên thất bại, ba là vượt biên đau thương. Cả nhà 3 loại đều có đủ trong gia đ́nh vói kết quả như sau:

A - Vượt biên tốt số là đi tới nơi an toàn và định cư tại một nước tự do

    1) Gia đ́nh chú Năm Lực (Nguyễn Văn Lực, Lê Hồng Hạnh) con cậu Tám Châu Đốc. Chú Thím và 3 con nhỏ đi suông sẽ và hiện nay an cư lạc nghiệp tại Seatle tiểu bang WA Hoa Kỳ.

    2) Gia đ́nh cô Ba Vui (Nguyễn Thị Vui, Lê Chí Trường) con rể cậu Tám Châu Đốc. Gia đ́nh này có sự bất ḥa với chế độ mới nên bỏ xứ ra đi như sau: Dượng Ba Trường là Cán Sự Điện Lực, Trưởng Ty Điện ở Mỹ Tho. Sau 30-04-1975, Dượng về Châu Đốc là nơi Dượng có một người chị ruột từ chiến khu ra và có chân trong Ũy Ban Nhân Dân Châu Đốc. Do đó Dượng được thâu nhận vào chánh quyền và phụ trách Điện Lực địa phương. Đáng lẽ sự hợp tác đó diễn ra tốt đẹp, nhưng có sự trục trặc trong công tác của Dượng do hành động ngang ngược của cán bộ Cộng Sản gây ra cho nên Dượng bất măn và bỏ xứ ra đi. Cô Dượng cùng 5 con nhỏ vượt biên an toàn và định cư tại Falls Church tiểu bang VA Hoa Kỳ.

    Tôi có nói cô Vui là người giống Bà Ngoại, cô có tinh thần gia đ́nh sâu đậm như cậu Tám. Cô giúp bà con ổn định đời sống tại đó. Nhưng định mệnh trớ trêu khiến cô mất đi trong lúc c̣n trẻ. Đó là một sự mất mát to lớn của gia đ́nh họ Nguyễn.

    3) Gia đ́nh cháu Nguyễn Thiện Chiến (con anh chị Cầu) vợ là Vơ Thị Mai cùng 2 con nhỏ vượt biên an toàn. Cháu là người có số đỏ, luôn gặp may mắn trên đường đời. Cháu định cư và an cư lạc nghiệp tại Salem, tiểu bang OR Hoa Kỳ.

    4) Gia đ́nh cháu Nguyễn Thị Phương (con anh chị Ba Nguyễn Thị Tàn) cùng chồng là Trần Quang Trung và 2 con vượt biên b́nh yên đến nơi đến chốn. Các cháu an cư lạc nghiệp tại Duncanville, tiểu bang TX Hoa Kỳ.

B - Vượt biên thất bại

    5) Chuyến vượt biên này của 2 anh em là gia đ́nh Đoàn Văn Quế - Huỳnh Thị Kim với 4 con nhỏ và gia đ́nh Đoàn Phát Minh - Nguyễn Thị Kim Xuyến với một con nhỏ. Thuyền các cháu ra tới hải phận quốc tế th́ máy hỏng, thuyền trôi vào Côn Đảo và bị bắt ở đó. Đàn bà trẻ con được tha về, 2 cháu bị giam tại nhà tù Côn Đảo. Chú Đoàn Văn Quế gốc sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Ḥa nên bị giam nhiều năm tại đó. Cháu Đoàn Phát Minh là thường dân và được bảo lănh nên được tha về.

    Cháu Quế là người có định mệnh đen tối. Chị Hai mẹ cháu có nói ngày sanh cháu, có con chim cú bay đến sau nhà kêu lên nhiều tiếng thê thảm. Đó là điều xấu.

    Mấy năm sau tôi có dịp đi công tác quy hoạch tại Côn Đảo được phép thăm cháu và mang cho cháu thức ăn và thuốc uống. T́nh trạng sức khoẻ cháu rất kém. Sau đó nhiều năm cháu được tha về trong t́nh trạng suy yếu rất nặng và cháu qua đời ít lâu sau đó.

    Vợ cháu cùng 4 con vượt biên lần thứ nh́ đă thành công trong lúc cháu c̣n trong tù, và đă lập gia đ́nh khác ở tại Charlotte, tiểu bang NC, Hoa Kỳ. Mấy đứa con của cháu Quế là đàn chim lạc bầy của gia đ́nh họ Nguyễn.

C - Vượt biên đau thương

    Đó là những vụ vượt biên bị nạn cướp biển Thái Lan hoặc bị ch́m thuyền chon vùi dưới biển sâu.

    6) Gia đ́nh Nguyễn Văn Đoàn, Đào Huệ Chi cùng 2 con nhỏ mà tôi có nói ở trên. Các cháu bị ch́m thuyền trong trường hợp nào không rơ và mất tích ở vùng biển G̣ Công.

    7) Chú sáu Nguyễn Văn Khá (con cậu Tám Châu Đốc) và đứa cháu trai Lê Thanh Phong (con cô Nguyễn Thị Mừng) cùng đi với đông người, bị cướp biển Thái Lan chận bắt, tước đoạt hết tiền bạc nữ trang. Trước khi rút lui, bọn cướp bắt chú một cách bất ngờ, bắn và xô chú xuống biển. Việc đó xảy ra trước mắt cháu Phong thật thê thảm. Phong vượt biên thành công, đặt chân trên đất Mỹ, học hành đỗ đạt thạc sỉ điện toán (Master Informatique).

    Đây là trường hợp đặc biệt đáng khen, cháu c̣n nhỏ, một ḿnh lập thân và sau bảo lănh cha mẹ và các em đoàn tụ gia đ́nh tại Fairfax tiểu bang VA, Hoa Kỳ.

    Vượt biên là một biến động to lớn đă làm chấn động dư luận quốc tế chớ không phải là một biến cố nhỏ địa phương của lịch sử Việt Nam.

    Hàng triệu người đă không hề hiểm nguy, ra đi lánh nạn Cộng Sản. Bao nhiêu người đă làm mồi cho cướp biển, bao nhiêu người đă bị chôn vùi dưới biển sâu, chúng ta không biết được.

    Riêng gia đ́nh họ Nguyễn, với 4 vụ vượt biên thành công, một thất bại và hai vụ đau thương th́ chúng ta đă trả một cái giá rất đắt.

    Với sự mất mác 5 đứa con tuổi trẻ, đầy tương lai đă bỏ ḿnh trên biển cả, bao nhiêu đó cũng đủ để làm sáng tỏ lương tri con người.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giai đoạn III

Phục hưng hay tan ră?

(năm 2000 về sau)

 

    Lịch sử gia đ́nh họ Nguyễn như gịng nước sông Hậu, luôn luôn chảy, không khi nào ngừng. Nhưng trong đoạn tiểu sử này tôi tạm ngưng ở thời điểm 2000 để tổng kết t́nh trạng các gia đ́nh cá nhân và dự đoán chiều hướng mà gia đ́nh họ Nguyễn có thể phát triễn trong tương lai.

    Bắt đầu từ Ông Bà Ngoại của thế hệ 1 cho đến các cháu chít của thế hệ 6, một thời gian dài 150 năm đă đi qua. Nhân số từ 2 người bây giờ đă gia tăng đông đảo. Nếu không kể ông bà của thế hệ trước đă qua đời, chúng ta là một đại gia đ́nh hiện có khoảng 270 người, lớn nhỏ đang sinh sống. Trong số này có 100 người di cư ở hải ngoại và 170 người ở Việt Nam.

    Sau những cuộc xáo trộn rối ren của thời cuộc và những ngày đen tối 30 tháng 4 năm 1975, có thể nói là gia đ́nh họ Nguyễn đă vượt khỏi trận băo tố hải hùng đó với ít nhiều sứt mẽ và tiến lên vững mạnh, con cháu có đời sống ổn định, an cư lạc nghiệp. Có lẽ đó là chúng ta đă hưởng được cái phước đức của ông bà để lại của một gia đ́nh có tiếng hiền từ lương thiện tại địa phương Vĩnh Trinh.

    Sau đây tôi làm bảng tổng kết về t́nh trạng các gia đ́nh cá nhân trong khung cảnh chung của đại gia đ́nh họ Nguyễn.

 

1)  Theo cấp bực trước sau của gia phả, trường hợp đầu tiên tôi nói ở đây là gia đ́nh anh Sáu Bé (Dương Văn Liêm, Nguyễn Thị Cúc).  Tôi có nói anh là người vô chiến khu rất sớm, tập kết ra Bắc, công tác ở Đông Âu, trở về Nam sau 30/04/75 trong nhiệm vụ xuất khẩu của chánh quyền Cộng Sản. Hiện giờ anh chị ở Thành Phố Hồ Chí Minh, có hưu bỗng, các con đều có chức vụ vững vàng trong chánh quyền.

    Nhớ lại trước khi anh chị về Nam, mỗi lần tôi đi về Long Xuyên đều có đi thăm D́ Haianh Tư Sên ở Thốt Nốt. Lúc đó gia đ́nh đă bỏ nhà ở Kinh Xáng , nơi chúng tôi nghĩ hè hồi xưa và ở một căn nhà ngoại ô quận Ly.

    Mỗi lần gặp tôi, D́ Hai khóc và hỏi chừng nào anh Sáu về? Tôi nói c̣n không bao lâu để an ủi D́ Hai, bây giờ anh đă về sau khi D́ Hai qua đời, không biết anh c̣n nhớ mẹ già trông con hay không?

    Gia đ́nh anh Sáu Bé v́ ở xa Vĩnh Trinh, ít khi gặp nhau nên có đời sống riêng biệt với gia đ́nh họ Nguyễn. Bây giờ anh về th́ gia đ́nh cũng mừng v́ anh là người của Cách Mạng th́ có thể chỉ dẫn bà con sống trong nề nếp của chánh quyền. Đại khái những vụ “về quê lập nghiệp” và “đi kinh tế mới” th́ anh có cho ư kiến. Anh đă lấy t́nh Đảng đối xử với gia đ́nh thay v́ lấy t́nh người đối với người. Về sau người ta mới biết được những quyết định về hồi hương và kinh tế mới là những quyết định cấp thời để đưa dân chúng Miền Nam sống xa đô thị.

    Anh cũng có phần nào ảnh hưởng trong việc anh Út Khiêu bị đi học tập cải tạo và chết trong trại tù ở thượng du Bắc Việt mà tôi sẽ nói sau.

    Trong khung khổ của hồi kư gia đ́nh này, tôi cố gắng kể lại một cách chân thật những sự việc đă xảy ra để những thế hệ sau suy xét.

2)             Gia đ́nh kế tiếp mà tôi biết nhiều là gia đ́nh Anh Chị Hai (Nguyễn Thị ĐiệtĐoàn Phú Văn) mà tôi đă nói ở trên Anh Chị đă qua đời nhưng con cháu Anh Chị khá đông ở tại TP Hồ Chí Minh và Vĩnh Trinh.

    Con gái lớn của Anh Chị (Đoàn Thị Lưu) đă lớn tuổi, sống độc thân với đứa con gái nuôi tại đầu lộ Vĩnh Trinh. Cháu là cô giáo về hưu, sống một cách khiêm nhượng yên ổn trong ngôi nhà nhỏ, trên lô đất của ḿnh.

    Người con kế đó của Anh Chị Hai (Đoàn Văn Quế - Huỳnh Thị Kim) tôi có nói trong vụ vượt biên thất bại. Cháu là cán sự Kiến Trúc , Trưởng Ty Kiến Thiết Hậu Nghiă. Cháu bị động viên, nhập ngũ với cấp bực Thiếu Úy. Nơi ở hiện nay của cháu Thọ và bé Bảy là “đất cắm dùi” của cháu lúc cháu là quân nhân. Cháu vượt biên thất bại, vào tù tại Côn Đảo và đau yếu trong tù. Cháu được tha về ít lâu th́ qua đời. Vợ con cháu đă vượt biên từ lâu.

    Người con kế tiếp của Anh Chị là Đoàn Phú Thọ, vợ là Nguyễn Hồng Nga. Gia đ́nh cháu đông người 3 trai, 1 gái và 2 đứa cháu nội. Cháu là cán sự Kiến Trúc khóa đầu tiên mà tôi đào tạo. Cháu có năng khiếu về vẽ, đứng đầu lớp học và đầu khóa cán sự tốt ngiệp (Viện Đại Học Sài G̣n).

    Con trai lớn của cháu là Đoàn Phú Thơ. Cháu Thơ tính t́nh mềm mỏng, dễ thương. Cháu được xuất dương du học tại Đức, có sự đỡ đầu của người chú là Nguyễn Thiện Công . Cháu Thơ không vào Đại Học Đức được v́ tŕnh độ kém. Đó là kết quả của việc đào tạo học sinh theo chỉ tiêu quá yếu của Cộng Sản. Cháu ở Đức năm sáu năm ǵ đó, giúp việc trong nhà hàng ăn của cháu Công, và trở về Việt Nam cưới vợ ở luôn VN. Đây là một vấn đề hội nhập đảo ngược khó khăn của cháu v́ cháu từ nước Đức giàu nhất Âu Châu, trở về Việt Nam là nước nghèo nhất Đông Nam Á. Cháu phải có thời gian để thích nghi đời sống, nhưng khi có cuộc sống ổn định th́ tinh thần cháu sẽ lành mạnh hơn là ở hải ngoại.

    Con gái Út của Thọ là Đoàn Phú Phương Thảo, sinh viên Kiến Trúc. Cháu Thảo là tương lai nối nghiệp Kiến Trúc trong gia đ́nh họ Nguyễn.

    Cháu Thọ sau khi tốt nghiệp cán sự, làm việc tại Công Ty Hàng Không Việt Nam cho đến 30/04/75.

    Vai tṛ của cháu rất quan trọng trong gia đ́nh họ Nguyễn. Cháu chuyên về xây cất và tham gia trong việc điều hành hương hỏa bởi v́ Anh Chị Hai, ba má cháu đă an nghỉ trong khu Mộ Rạch Cui.

    Người con thứ 3 của Anh Chị Hai là Đoàn Phát Minh vợ sau là Nguyễn Thị Kim Xuyến. Cháu Minh cũng là KTS do tôi đào tạo. Cháu có năng khiếu rất cao về sáng tác của nghề Kiến Trúc. Cháu là KTS tốt nghiệp của Viện Đại Học Saigon trước 30/04/75.

    Trong lúc tôi hành nghề ở VN th́ cháu Minh là KTS trưởng, trong văn pḥng tư vụ của tôi. Cháu điều hành các KTS khác và các họa viên để phụ tá tôi. Riêng tôi th́ đinh minh là cháu Minh sẽ nối nghiệp tôi làm chủ văn pḥng trong tương lai. Nhưng đó là ư người c̣n định mệnh th́ định đoạt cách khác.

    Bây giờ cháu Minh không cần hoạt động nghề nghiệp để sống v́ cháu có một cửa hàng bán vật liệu xây cất rất thịnh hành ở G̣ Vấp. Nói vậy chớ, nghề Kiến Trúc của cháu vẫn c̣n đó, tay nghề và kinh nghiệm của cháu không thua sút ai, nhưng với sự lạm phát KTS hiện nay ở VN th́ việc cạnh tranh nghề nghiệp mệt hơn là mua bán.

    Hướng sinh hoạt của Minh là một chiều hướng phát triển mới của đại gia đ́nh tức là thương mại kinh doanh đi sau chiều hướng trí thức.

    Nội trợ của cháu Minh là Nguyễn Thị Kim Xuyến cũng là người đảm đang giỏi. Con trai là Đoàn Minh Tứ B́nh, sinh viên công chánh sắp tốt nghiệp kỹ sư về xây dựng.

    Tiểu gia đ́nh này có tương lai đầy hứa hẹn. Tất nhiên là vai tṛ của cháu Minh trong việc điều hành hương hỏa rất là quan trọng cũng như Thọ người anh của Minh. Với cái chuyên môn kiến trúc của ḿnh, cháu Minh có thể làm được nhiều việc sáng tạo để trùng tu hoặc xây dựng Phủ Thờ.

    Người con gái Út của chị Hai là Đoàn Thị Kim Hoàng, chồng ly dị là Nguyễn Thanh B́nh. Cháu tốt nghiệp kỹ sư hóa học, Viện Đại Học Sàig̣n nhưng cháu không hành nghề kỹ sư mà cháu thích mua bán hơn.

    Sau một thời gian chuẩn bị, bé Bảy được chấp nhận sang Đức để giúp việc trong nhà hàng ăn của cháu Công. Cháu xuất ngoại nhưng con gái của cháu là Nguyễn Ngọc Khuê Anh c̣n kẹt lại ở Việt Nam có lẽ lâu lắm mới sum hợp với cháu được.

3)             Gia đ́nh kế tiếp trong chi nhánh cậu Mợ Ba là Anh Chị Ba Nguyễn Thị Tần, Nguyễn Văn Thính. Gia đ́nh này ít người: 1 trai, 2 gái. Nơi ở của gia đ́nh không nhất định, thay đổi nhiều nơi. Gia đ́nh này có một định mệnh rất đặc biệt, có thể nói là đen tối nhưng đây là gia đ́nh sáng chói nhứt trong gia đ́nh họ Nguyễn.

    Con trai lớn và dâu của anh chị Ba là Nguyễn Văn Đoàn, Đào Huệ Chi, cả hai đều là KTS mà tôi có nói phía trước trong những vụ vượt biên đau thương, mất tích trong vùng biẻn G̣ Công. Người con gái lớnNguyễn Thị Phương, chồng là Nguyễn Quang Trung, là dược sĩ và kiến trúc sư viện đại học Sàig̣n. Các cháu hiện ở Duncanville, tiẻu bang Texas, Hoa Kỳ. Hai đứa con của cháu là sinh viên Đại Học Mỹ.

    Người con gái út của chị là Nguyễn Thị Dung, bác sĩ viện đại học Sàig̣n, hiện ở Texas, Hoa Kỳ.

    Như vậy tất cả 5 người con và rễ anh chị Ba đều là trí thức cao cấp th́ tôi có thể nêu danh là gia đ́nh sáng chói của gịng họ Nguyễn.

4)             Gia đ́nh Nguyễn Thiện CầuLưu Ngọc Diệp là gia đ́nh tôi thân thích hơn hết v́ anh Tư với tôi là anh em trong gia đ́nh, người bạn học song song đi từ tiểu đến trung học, người bạn song hành trên bước đường đời trôi nổi của thời cuộc, người cùng chung số phận ly hương của tuổi già suy tư. Trong cuộc đời của con người ít có ai khắn kh1t với nhau được như vậy, cho nên tôi cố gắng khách quan trong những ǵ tôi kể ở đây.

    Hiện giờ anh chị định cư tại Đức Quốc, ở chung với con rể tại vùng Stuttgard là Nguyễn Thiện Ngọc Thúy, Nguyễn Duy Phương. Cháu Phương là kỹ sư cơ khí, du học và tốt nghiệp tại Đức, cháu có việc làm vững chắc và lâu dài tại đây. Cháu Thúy là sinh viên đại học, nhưng cháu thích thương mại kinh doanh hơn là làm việc cố định. Hai đứa con nhỏ, trai và gái của cháu rất thông minh kháu khỉnh.

    Cháu chung vốn với chị là Nguyễn Thiện NGọc Oanh mở một nhà hàng ăn tại địa phương.

    Cháu Oanh hồi ở Việt Nam là cô đỡ quốc gia (sage femme d’ état), cháu học có chứng chỉ cữ nhân luật.

    Người con trai lớn của anh chị Tư là Nguyễn Thiện Chiến, vợ là Vơ Thị Mai. Cháu Chiến là kiến trúc sư đệ tử của tôi. Cháu có năng khiếu về trang trí. Cháu là người có số đỏ, làm ǵ cũng rất may mắn trong đời. Cháu vượt biên suông sẽ và định cư tại Salem tiểu bang OR Hoa Kỳ. Gia đ́nh cháu đă an cư lạc nghiệp tại đó. Cháu có việc làm vững vàng trong nghành kiến trúc. Hai đứa con trai của cháu là ChíChinh đă nên người. Người con lớn là Chí đă lập gia đ́nh, vợ là người Mỹ.

    Người con trai kế của anh chị Tư là Nguyễn Thiện Công. Cháu du học tại Đức, tốt nghiệp kỹ sư cơ khí và ở luôn tại đó. Gia đ́nh cháu bị trắc trở. Người vợ trước là Tiêu Thị Hường, người gốc Rạch Giá, cha mẹ và bà con làm đám cưới cháu Công, Hường ở Việt Nam, xong mới cho cháu Hường sang Đức sum họp với cháu Công.

    Hai con trai của cháu Công là Nguyễn Thiện VănNguyễn Thiện Đoàn, gia đ́nh này gẩy đổ và chia rẽ. Sau đó cháu Công chấp nối với vợ sau là Đặng Thị Trân Châu. Cháu Công là người hiện đại cho nhóm sinh viên yêu nước trước 30-4-1975. Cháu làm việc đắc lực cho một công ty Đức. Sau cháu thôi việc, ra ngoài kinh doanh thương mại và làm chủ một nhà ăn khách sạn rất đẹp phải thế và thịnh hành tại Stuttgard.

    Cháu Công là người trí thức cao cấp, cháu thông minh lanh lợi và có tinh thần gia đ́nh cao v́ cháu giúp em cháu ở Việt Nam qua Đức làm ăn du học. Cháu đem lại cho gia đ́nh họ Nguyễn chiều hướng phát triễn mới là kinh doanh thương mại. Cháu có vai tṛ tương lai quan trọng trong đại gia đ́nh ở hải ngoại.

    Anh chị Tư Nguyễn Thiện Cầu và các con cháu là một nhóm gia đ́nh đoàn kết, phát đạt. Anh chị được các con phụng dưỡng đầy đủ. Năm nào anh Tư cũng về Việt Nam thăm gia đ́nh bà con, anh có nhiều uy tín trong vấn đề hương hơa của gia đ́nh nhưng anh đặt nặng quyền lợi cá nhân hơn là quyền lợi chung cho nên đối lập với số đông. Việc này sẽ kể rỏ hơn ở sau. 

5)             Sau anh chị Tư là gia đ́nh Chị Năm Nguyễn Thị QuangVơ Văn Kềm mà tôi có nói ở phía trước.

    Chị Năm hiện ở Long Xuyên cùng 3 con: 2 trai 1 gái đều có gia thất là Vơ Thiện Châu, Trần Kim Xuyên. Cháu Châu là người được cộng sản nuôi từ thuở nhỏ, cháu về Nam sau 30-4-1975 với cấp bực thiếu úy hải quân, cha phục vụ trong chánh quyền một thời gian, đáng lẽ phải được tăng lên cấp cao, nhưng cháu không có ư chí và tham vọng nên bị loại khỏi chánh quyền. Hiện cháu và gia đ́nh sinh sống đơn giản của một người dân.

    Người con trai kế của chị Năm là Nguyễn Vơ Thiện Sơn, vợ là Phạm Thị Kim Loan. Cháu sống dưới chánh quyền quốc gia từ lúc bé, lớn lên bị động viên trước 30-4-1975. Trong lúc bị gọi nhập ngũ, cháu có ư định nhờ tôi cho tá túc ở trong nhà Làng Đại Học Thủ Đức. Tôi từ chối v́ nguyên tắc chớ không phải v́ trách nhiệm. Tôi đă nuôi các cháu Quế, Thọ, Minh ở trong nhà và tôi muốn cháu Sơn cũng như cháu Quế nhập ngũ như mọi người để tránh tiếng “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” nhưng cháu được hoăn dịch cho tới 30-4-1975.

    Người con gái Út của chị Năm là Nguyễn Thị Thủy, chồng là Nguyễn Thanh Quế sống với chị. Tất cả con trai con gái đều có gia đ́nh, Chị có cháu Nội, Ngoại. Gia đ́nh này sống một cách đạm bạc, hơi riêng biệt có lẽ v́ mặc cảm. Chị là gia đ́nh Liệt Sĩ có công với kháng chiến nhưng không có ưu đăi ǵ của chánh quyền. Chị Năm là người cương trực, sáng suốt, Chị đă dành được chủ quyền hương hơa khu mộ Rạch Cui nhưng v́ sinh kế, Chị đă nhường lại cho Năm Mên. Gần đây trong vấn đề tranh chấp quyền lợi cá nhân của anh Sáu Điển, Chị đă ra lệnh phá bỏ 3 cái nền nhà của con anh Sáu Điển đă đấp trước Phủ Thờ.

    Vấn đề tranh chấp vẫn c̣n đó, v́ anh Tư Cầu đă ra mặt áp đảo, lấy quyền trưởng tộc trong đại gia đ́nh và đúng về phía anh Sáu Điển để binh vực quyền lợi cá nhân anh ấy.

    Việc đó cho thấy vai tṛ sáng suốt của chị Năm Quang rất là quan trọng trong gian đoạn chuyển tiếp về sự tồn tại của gia đ́nh họ Nguyễn.  

6)             Tiếp theo đây là gia đ́nh anh chị Sáu Nguyễn Văn ĐiểnKha Thị Kim Vân. Anh Sáu là người tốt, tôi biết rơ từ lúc anh c̣n nhỏ, lúc anh và Út Khiêu ở nhà tôi đi học tiểu học ở Đà Lạt. Lúc đó tôi có xin ghi danh cho 2 anh vào học ở Lycée Yersin trường Pháp. Ngày nhập học anh Sáu bị đuổi về không cho học. Người Hiệu Trưởng Pháp kêu tôi vào xài xể về việc tôi ăn gian hạ thấp tuổi anh Sáu, c̣n anh Khiêu th́ được chấp nhận. Khi các anh về, tôi hỏi lại mới biết lớp các anh học là lớp nhỏ gồm toàn trẻ con người Pháp. Khi sắp hàng vào lóp, anh đứng cao ngệu hơn hẳn bạn học cùng lớp trông thấy rơ nên bị ngăn trở. C̣n anh Khiêu th́ nhanh trí, anh rùm xuống thấp nên đi lọt. Việc đó cho thấy anh Sáu có tánh thật thà chân thật.

    Sau đó khoảng năm 1970 sau khi Cậu Ba qua đời th́ anh Tư Cầu gọi anh Sáu ở Sàig̣n về, thay quyền thừa kế của anh để ở nơi Phủ Thờ lo việc thờ cúng Ông Bà. Việc đó thích hợp bản chất của anh và anh thủ ở đó cho đến bây giờ.

    Sau 30-4-1975, anh bị khó dễ, Việt Cộng chiếm nhà v́ cho anh là điền chủ.

    Tất cả việc đó cho thấy anh là nguời có công ǵn giữ nhà Phủ Thờ tức là sự tồn tại của gia đ́nh họ Nguyễn.

    Anh Chị có 4 người con gái là Nguyễn Thị Thanh Giang, chồng là Huỳnh Hữu Siêu, người con gái thứ nh́ là Nguyễn Thị Kim Chi, chồng là Phạm Đăng Dũng, người con gái thứ ba là Nguyễn Thị Ngọc Linh, chồng là Trương Ngọc Trợ, người con gái út là Nguyễn Thị Phương Hồng, chồng là Nguyễn Văn Bông. Tất cả đều có con, cháu ngoại anh chị.

    Việc anh chị không có con trai là mộy vấn đề quan trọng về tục thừa kế hương hơa trong gia đ́nh. Hồi trước chị Hai, con gái lớn cậu mợ Ba, đă không được chọn thừa kế hương hơa mặc dù anh Hai có công lấy lại ruộng đất trong tay Ḥa Hăo, th́ nguyên tắc đó được áp dụng trở lại. Việc đó có nêu rơ trong Bản Tổ Chức Nội Bộ gia đ́nh họ Nguyễn, là anh Sáu có quyền đề nghị người thừa kế hương hơa để Đại Hội Gia Tộc quyết định.

7)             Gia đ́nh con trai Út cậu mợ BaNguyễn Văn Khiêu, vợ là Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, anh Khiêu được cậu mợ Ba cưng yêu v́ anh là con Út. Bẩm chất anh hiền lành, dễ mến và lanh lẹ. Nhưng anh có một định mệnh đen tối đeo đuổi anh trong suốt cuộc đời ngắn ngủi của Anh.

    Tôi nhớ là lúc anh c̣n bé, mỗi lần anh đi chơi bên voi Đ́nh về là anh bị nóng lạnh. Đó là sự nhận xét của mợ Ba. Về sau tôi thường đi chơi với anh nhiều nơi, mỗi lần đi xe là bị trục trặc. Có lần tôi đi với anh về Long Xuyên, th́ chút nữa là xe cán người, và đâm xuống rạch. Khi đi Đà Lạt th́ xe hư nằm đường. Tôi sợ quá, mỗi lần đi với anh là tôi đề pḥng cẩn thận.

    Sau 30-4-1975, anh là quân nhân Hạ Sĩ Quan nên phải làm tờ khai như mọi người. Tôi nhớ lúc đó anh đi gặp anh Sáu Bé ở nhà  chị Hai, anh hỏi ư kiến anh Sáu, anh Sáu Bé cho biết nên tự buộc ḿnh càng nhiều, càng tốt và như thế sẽ được Cộng Sản châm chế. Không biết anh Khiêu có ngớ ngẩn nghe lời khuyên bảo của anh Sáu Bé hay không mà khi anh đưa mấy tờ khai cho mấy người bạn coi th́ ai cũng la trời, nói khai như vậy chẳng khác đưa đầu vào máy chém. Không biết anh Khiêu có làm lại tờ khai hay không, nhưng kết quả anh bị học tập cải tạo tại miền thượng du Bắc Việt. Về sau chú Thế con cậu mợ Bảy, chú là Sĩ Quan cấp tá, cũng bị học tập cải tạo tại miền thượng du Bắc Việt thuật lại cái chết của anh Khiêu như sau:  HÔm đó anh bị lao động trong rừng, v́ đói anh phải nhổ cỏ rừng để ăn, ăn mhầm cỏ dại và bị nhiễm độc. Đến chiều về người ta mới thấy anh Khiêu nằm chết bên đường ṃn, cái chết cố t́nh hay vô ư! Bây giờ tôi nhắc lại bùi ngùi xúc động, thương anh Khiêu, người có định mệnh đen tối.

    Hiện giờ chị Út Khiêu cùng hai con sống chung trên lô đất của anh Sáu Điển cho ở sau 30-04-1975, bên cạnh cháu Lượm, trên đầu lộ Vĩnh Trinh. Con gái lớn của chị là Nguyễn Thị Tuyết Phương, chồng là Phạm Văn Sĩ, con trai của chị là Nguyễn Trí Phương, vợ là Nguyễn Thị Thùy Linh có cháu trai là Nguyễn Phương Thảo Vi. Nhân dịp về Việt Nam, chúng tôi có tham dự đám cưới của cháu Phương.

    Gia đ́nh chị Út và con cháu sống một cách nhỏ nhoi, khiêm nhượng tại Vĩnh Trinh, cháu Phương có việc làm ở Thốt Nốt, sớm đi chiều về. Mấy năm sau 30-04-75, đáng lẽ gia đ́nh này được Hoa Kỳ cho nhập cư theo diện HO, nhưng chị Út là người thật thà, không có tầm nh́n rộng, không được gia đ́nh nâng đỡ cho nên đă bỏ qua dịp may đó. Việc đó cũng không có ǵ đáng tiếc v́ chị Út có đời sống ở đây thích hợp hơn là đời sống di cư ở hải ngoại.

    Hơn nữa, cháu Phương và anh Sáu Điển là 2 người phái nam duy nhất của đại gia đ́nh c̣n sinh sống tại Vĩnh Trinh th́ cháu Phương sẽ có một vai tṛ quan trọng trong việc thừa kế hương hơa mà Đại Hội Gia Tộc phải xem xét.

8)               Gia đ́nh kế tiếp sau chi nhánh 2, (Cậu Mợ Ba) là gia đ́nh của tôi v́ má tôi thứ tư sau cậu Ba. Đây là gia đ́nh Huỳnh Kim Măng mà tôi biết rơ hơn hết. Đây là một gia đ́nh ít người ở hải ngoại. Người nội trợ trước của tôi là Lê Thị Nam đă qua đời. Con gái là Huỳnh Kim Uyên, chồng là Nguyễn Kim Vang. Tôi có hai đứa cháu ngoại, đứa con gái lớn là Nguyễn Thanh Trang, đứa trai nhỏ là Nguyễn Văn Ḥa cùng cha mẹ ở Houston tiểu bang Texas Hoa Kỳ. Hai đứa c̣n là sinh viên. Người nội trợ sau của tôi hiện nay là Nguyễn Thị Ngân Kiều, con trai chúng tôi là Huỳnh Kim Bảo, chuyên viên điện toán.

    Nhắc lại hồi tôi c̣n du học tại Pháp th́ tôi và vợ trước đă chi rẽ, Bà ấy sang Bỉ lập gia đ́nh ở Dinant, sau về Bruxelles, làm ăn phát đạt. Tôi về Việt Nam với con nhỏ là Kim Uyên và tôi cũng lập gia đ́nh với người vợ hiện nay là Nguyễn Thị Ngân Kiều, Bà học tại Viện Quốc Gia Hành Chánh và tốt nghiệp Đốc sự hành chánh ở đó. Năm 1970, tôi cho Kim Uyên xuất ngoại du học tại Bỉ để gặp lại mẹ và Bà ngoại ở đó. Con Kim Uyên học tại Viện Đại Học Bruxelles, khóa tâm lư học. Con lập gia đ́nh, có cửa hàng thương mại và bảo lănh chúng tôi và Bảo qua đó (Bruxelles). Vài năm sau gia đ́nh con và 2 con nhỏ di cư sang Hoa Kỳ, làm thương mại, an cư lạc nghiệp ở Houston tiểu bang Texas Hoa Kỳ.

    Chúng tôi có ư định làm thương mại sau khi định cư, chúng tôi sang một cửa hàng bánh ḿ, bánh ngọt tại trung tâm thương mại, sau 15 năm cần cù lao động, chúng tôi mua cao ốc nhỏ 4 lầu tại tiệm bánh, sửa sang đầy đủ tiện nghi và cho thuê. Hiện nay chúng tôi dưỡng già tại một căn nhà nhỏ khu gia cư, đời sống an nhàn đầy đủ, làm vườn và lo việc gia đ́nh hương hơa ở Việt Nam.

9)              Gia đ́nh sau chúng tôi là Lê Ngọc Mừng tự Siếu vợ là Trần Thị Rép, cả hai đều qua đời, con cháu tản lạc. Đây là gia đ́nh vô phước của họ Nguyễn.

    Nhắc lại năm 1958 tôi ở Pháp về, có đến thăm D́ Dượng Sáu (Nguyễn Thị Huyện – Lê Văn Kĩnh) là ba má chú Siếu. D́ Dượng ở đầu cầu Voi Đ́nh, trong một căn nhà nhỏ cất bằng vật liệu cũ của lẩm lúa, với con dâu và cháu nội. Nhà nhỏ nhưng vững chắc, thông thoáng và ngăn nắp. D́ Dượng đă lớn tuổi, sống đơn giản, an nhàn, xung quanh nhà trồng vài gốc Cam, Xoài sai trái. Dượng Sáu là người trong đạo Ḥa Hảo có uy tín, Dượng tu theo cái nghĩa tu tĩnh, hiền từ của nhà Phật chớ không phải theo đường lối đấu tranh của đạo. Tôi nhớ là năm 1945, lúc chúng tôi kháng chiến chống Pháp, D́ Dượng có nhà ở bờ Kinh Xáng, cầu đúc số 3, tôi bị kẹt ở Vĩnh Trinh trong vùng Ḥa Hảo. Anh Tư Cầu và bạn Lê Công Kiệt từ chiến khu núi Sập bơi xuồng về giải thoát tôi, xuồng có chở súng đạn, trong đường về chúng tôi bị dân canh Ḥa Hảo nom theo, khi tới bờ kinh nhà D́ Dượng, chúng tôi nhờ Dượng Sáu can thiệp nên bộ đội Ḥa Hảo mới mở ṿng vây cho chúng tôi đi.

    Về phương diện cá nhân, D́ Dượng Sáu là người thế hệ thứ 2 của gia đ́nh, lớn tuổi nên có tánh thủ cựu, không cho đứa con duy nhất là chú Siếu ăn học, mở mang. Lúc đó phương tiện đi học xa nhà của lứa trẻ không c̣n dể dàng như lúc cậu Tám Châu Đốc c̣n độc thân.

    Có lúc chú Siếu đi làm xa nhà, có lúc tôi cho chú gia nhập vào nhân viên công trường của văn pḥng nhưng không có kết quả.

    Một lần khác về sau, chú thím Tông, con Cậu Mợ Bảy, có ư gọi mấy đứa con của chú Siếu lên chợ số 2 giúp v́ệc buôn bán, nhưng chú cũng từ chối.

    Người con gái lớn của chú thím là Lê Mỹ Tiên, chồng là Nguyễn Văn Tuấn đă có 2 cháu, người con trai út thứ 3 là Lê Châu Tuấn, vợ là Khên Thị Kim Nga, có một cháu trai. Người con trai giữa là Lê Châu Long, độc thân.

    Gia đ́nh này c̣n vững khi D́ Dượng Sáu c̣n sống, nhưng D́ Sáu đă qua đời. Tôi c̣n nhớ sau 30/04/75, tôi có nhờ anh Hai Đoàn Phú Văn đem ít tiền về Vĩnh Trinh cho Dượng Sáu chi dụng, sau tôi mới biết số tiền này đă đi vào đám tang của Dưọng Sáu. D́ Dượng Sáu qua đời th́ gia đ́nh cũng sa sút tới cùng độ. Chú Siếu có lẽ v́ hết đường sinh sống nên đă bán ngôi nhà cho người ta tháo dỡ đem đi. Đám con nhỏ của chú giăi quyết cách nào không rơ. Vợ chú cũng qua đời có thể v́ thiếu ăn, chú th́ “ăn đ́nh, ngủ chợ” thật là bi đát. Chú đă qua đời, con trai chú là Lê Châu Long, hiện giờ làm thuê, làm mướn để sinh sống.

    Đây là một trường hợp đáng buồn cho gia đ́nh họ Nguyễn. Đă nhiều lần tôi có cảm tưởng là chú Siếu không có tinh thần tự lập, chú tự làm “khổ nhục kế” để chứng tỏ là gia đ́nh họ Nguyễn có tiếng sung túc mà không đùm bọc được một chi nhánh sống c̣n, như vậy có đúng không?

    Tôi nghĩ là trong giai đoạn gia đ́nh ít người, sống gần nhau như lúc D́ Dượng Sáu c̣n sống, th́ trách nhiệm bao bọc của gia đ́nh đă được thể hiện đầy đủ. Nhưng khi gia đ́nh phát triển đông người, ở nhiều nơi, th́ cái trách nhiệm đó rất nặng, khó thể thực hiện một cách đầy đủ, việc thành bại, chủ yếu là do sự cố gắng của từng người, phải cần cù lao động, đó là định luật.

10)        Tiếp theo là gia đ́nh chú thím Tống(Nguyễn Văn Tống - Nguyễn Thị Lệ), con của cậu mợ Bảy. chi nhánh này rất đông người: 9 chị em, 2 trai, 7 gái mà tôi biết hầu hết trừ ra 3 đèo nhỏ. Hồi cậu mợ Bảy c̣n sanh tiền th́ cậu mợ căn cứ trên Kinh Xáng, cầu đúc số 3. Cậu mợ có một tiệm hàng xén khá lớn, bán rượu công-xi (công ty) bài nh́. Cậu mợ có một ngôi nhà ngói khá lớn ở phía trong bờ kinh. Đây là xóm nhà chót xă Vĩnh Trinh trên lộ Rạch Gia, đi xa hơn một đôi là Làng Sen, đồng ruộng mênh mông thẳng tới Cái Sắn. Giai đoạn kế đó, sau khi cậu Bảy mất, th́ một phần gia đ́nh lên ở thành phố Long Xuyên, trên đường Châu Đốc, bên kia ḅ kinh (1952). Gia đ́nh chia phân nữa vật liệu xây cất lấy từ lẩm lúa Vĩnh Trinh và dựng lên nhà sàn hiện nay. Tôi nhớ là trong những năm sau 1960, mỗi khi tôi và cậu Tám trên đường về Châu Đốc đều có ghé thăm mợ Bảy và các cô ở đó.

    Tôi ít khi gặp các chú Tống, Thế, lần chót tôi gặp chú Tống ở Vĩnh Trinh vào dịp đám cưới anh chị Út Khiêu tại Phủ Thờ khoảng năm 1962. Lúc đó chú Tống là sĩ quan, cấp Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, chú đi có em út quân đội hộ tống. Tôi khuyên chú nên thận trọng  trong nhiệm vụ quân đội, không nên quá hăng say v́ t́nh h́nh chính trị vẩn bắp bênh, không biết sẽ về ai.

    Sau thời gian dài 40 năm tôi mới gặp lại chú ở Annandale, tiểu bang VA, Hoa Kỳ.

    Chú là quân nhân nên được Hoa Kỳ cho định cư theo diện HO tại đó. Chú thím và gia đ́nh 5 con sống đoàn tụ, an cư lạc nghiệp tại đó. Con gái lớn là Nguyễn Thị Thu Nguyệt, mới lập gia đ́nh với Lâm Lễ Đ́nh, chúng tôi có dự đám cưới rất long trọng. Người con trai kế là Nguyễn Thanh Tùng vợ người Thái LanPencharoensioat, đă có con trai nhỏ rất kháo khĩnh. Những người con khác là Nguyễn Thị Thùy Trang, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh Tú đều c̣n trẻ tuổi.

    Từ lúc chú thím và các con ở Việt Nam cho đến khi định cư ở hải ngoại, chú thím đă quen việc làm ăn, cần cù lao động, giờ đây cái định luật quen thuộc ấy sẽ đưa chú thím và các cháu vào một tương lai rộng mở, đầy hứa hẹn.

    Hiện giờ cháu Thanh Tùng đă làm chủ một xí nghiệp, lănh việc làm sạch các cao ốc rất phát đạt. Chú thím c̣n đang trù tính việc mỡ rộng kinh doanh cho các cháu gái.

    Đây là một chiều hướng phát triễn mới của gia đ́nh họ Nguyễn ở hải ngoại tức là hướng phát triển kinh doanh sau phát triển trí thức.

11)        Gia đ́nh kế tiếp, anh em ruột gắn bó với chú Tống là Nguyễn Văn Thế, Dương Kim Thoàn. Chú Thế là sĩ quan Thiếu Tá Quân Lực VN Cộng Ḥa. Tôi có nói là sau 30-04-75, chú bị tù cải tạo ở vùng thượng du Bắc Việt và chú đă chứng kiến cái chết của anh Út Khiêu.

    Chú được Hoa Kỳ cho định cư theo diện HO trước chú Tống 2 năm. Hiện giờ chú thím đă an cư lạc nghiệp tại Waterbury, tiểu bang CT, Hoa Kỳ, khá xa nơi chú Tống.

    Chú thím Thế có 5 người con: 2 trai, 3 gái cũng định cư ở Hoa Kỳ. Con trai lớn là Nguyễn Thế Phong, con trai kế là Nguyễn Thế Hiển vừa mới lập gia đ́nh với Dương Ngọc Yến. Ba người con gái của chú thím đều có gia đ́nh sau khi định cư. Đó là Nguyễn Thị Thế Hải - Huỳnh Văn Dũng có 3 con nhỏ, Nguyễn Thị Thế Phương – Vơ Thanh Quan có một con, Nguyễn Thị Thế Vinh – Đoàn Văn Chính có một con.

    Gia đ́nh này đông đảo, con rể và con cháu đầy đủ, trai gái đều an cư lạc nghiệp ở Hoa Kỳ. Tôi chưa có dịp gặp các gia đ́nh con rể của chú thím Thế.

    Hồi chúng tôi c̣n ở TP Hồ Chí Minh sau 30-04-1975, cô Dượng Nguyễn Thị CúcVơ Ngọc Hoành, con rể cậu mợ Bảy thường tới lui với chúng tôi ở đường Duy Tân. Sau khi chúng tôi xuất cảnh sang Bỉ mới biết là cô Cúc đă qua đời.

    Tôi có gặp cô Chưu Nguyễn Thị Năm, chồng là Nguyễn Tấn Triệu trong chuyến chúng tôi về VN vào dịp đám cưới cháu Phương, con anh chị Út Khiêu tại Vĩnh Trinh năm 1997.

    Tóm lại, chi nhánh cậu mợ Bảy rất đông người, đa số ở Việt Nam – Long Xuyên, không xa nơi Phủ Thờ, là một ưu thế lớn trong những quyết định về hương hơa của gia đ́nh họ Nguyễn.

    Hai chú Tống và Thế ở hải ngoại, có tương lai vững chắc tốt đẹp, cũng có vai tṛ quan trọng và uy tín trong việc điều hành hương hơa gia đ́nh họ Nguyễn.

12)        Gia đ́nh Cô Dượng Nhă, Nguyễn Thị MừngLê Thanh Nhă, trong chi nhánh cậu mợ Tám Châu Đốc, hiện định cư tại Fairfax, tiểu bang VA, Hoa Kỳ là một gia đ́nh đông người. Con trai lớn của cô dượng là Lê Thanh Phong, vợ là Phạm Kim Phụng công dân Hoa Kỳ, đă bảo lănh cô dượng sang đây sum họp với gia đ́nh với con.

    Tôi có nói về trường hợp cháu Phong ở trước trong những vụ vượt biên đau thương. Cháu cùng người cậu vượt biên, bị cướp biển chận bắt, bắn chết người cậu. Cháu được định cư sang Hoa Kỳ, con trẻ nhỏ, xa nhà xa cha mẹ, lẻ loi một ḿnh mà cháu ăn học thành tài, đậu tiến sĩ điện toán (Master informatique) vợ cháu là nha sĩ ở Việt Nam qua, các cháu hiện có việc làm tại tiểu bang California ở Hoa Kỳ. Trường hợp của cháu Phong thật đáng khen.

    Trong dịp tôi đi Hoa Kỳ, chúng tôi có ghé thăm Cô Dượng tại Fairfax. Cô dượng có cuộc sống an nhàn, thoải mái, có trợ cấp người lớn tuổi, ở nhà xă hội rất vén khoé, đẹp đẽ.

    Con gái lớn Lê Thanh Thu Nguyệt, chồng là Nguyễn Thành Duy Khương vừa lập gia đ́nh, con trai út Lê Thanh Minh vợ là Huỳnh Thị Thu Thảo đă có cháu.

    Cô dượng sống với 2 con nhỏ là Lê Thanh B́nhLê Thanh Thu Hà, những con lớn có gia đ́nh đều sống riêng.

    Cô Mừng là người nội trợ đỡm đương, cần mẫn. Hồi cô dượng c̣n ở Việt Nam tại cư xá Tân Định th́ Cô đă tháo vát, giữ vững gia đ́nh. Giờ đây cô dượng có đời sống an lành, toàn vẹn của người di cư. Đó cũng là một cái lộc của chi nhánh Cậu Mợ Tám.

13)        Gia đ́nh kế tiếp sau Cô Mừng là Cô Vui, Nguyễn Thị VuiLê Chí Trường. Gia đ́nh này tôi có nói ở trước trong những vụ vượt biên tốt số. Nhưng vượt biên là bước đầu, bước sau là đời sống định cư th́ gia đ́nh đổ vở sau cái chết của cô Vui.

    Cô Vui là người có tinh thần gia đ́nh, cô đă giúp đở bà con từ Việt Nam mới qua định cư tại địa phương Annandale, nhưng định mệnh trớ trêu nên cô mất sớm, để lại sự thương tiếc của bao nhiêu người.

    Cô mất đi th́ gia đ́nh ví như nhà mất đi cột trụ chánh. Khi tôi đến thăm vào dịp tôi đi Hoa Kỳ năm 1999 th́ gia đ́nh này không c̣n nữa. Tôi chỉ gặp dượng Trường trong t́nh trạng bệnh hoạn suy yếu.

    Trong những năm về trước, con gái tôi là Kim uyên ở Houston có cho biết là có liên lạc với gia đ́nh c̣n rể cô dượng là Lê Chí Thùy TrangLê Trung Quân, 2 con nhỏ là Vi, Mi và nó hỏi tôi việc nó bà con với gia đ́nh này như thế nào, cấp bực lớn nhỏ ra sao, cho nên tôi có ư định lập bộ Gia Phả gia đ́nh họ Nguyễn hiện nay.

    Sau đây tôi nhớ đến Cậu Mợ Tám Châu Đốc, song thân cô Mừng, cô Vui và tôi xin tŕnh bày quăng đời c̣n lại của cậu Tám. Sau 30-04-75, cậu Tám đón nhận việc cộng sản xâm chiếm miền Nam như một tin mừng trọng đại. Cậu rất phấn khởi v́ trong lúc kháng chiến, cậu đă từng làm kinh tài ngầm giúp Việt Cộng trong chiến khu. Cậu vui tánh nên chia sẽ sự vui mừng cùng mọi người.

    Nhưng sau đó không lâu th́ những việc buồn phiền xảy ra liên tục. Trước hết là việc Dượng Trường v́ bất măn vói chế độ mới nên đă vượt biên. Kế đó là cách mạng Văn Hóa Việt Cộng sung công nhà in Nhựt Văn của cậu. Chúng phá hủy tất cả, đem những hộc chữ trong nhà in đỗ dưới gốc cây trứng cá bên lề đường. Việc đó làm cho cậu không c̣n sức chịu đựng, đó là nỏi buồn vô tận của tuỏi già, cậu im lặng, không buồn tṛ chuyện với ai hết.

    Việc buồn kế tiếp là chú Sáu Khá vượt biên không tin tức (chú bị cướp biển bắn chết).

    Sau một thời gian lâu, cô Vui làm hồ sơ bảo lănh Cậu và các chú Tấn, Vĩnh di cư sang Hoa Kỳ th́ cậu cũng chấp nhận. Nhưng hồ sơ xuất cảnh chưa xong th́ tôi được tin cậu Tám đă qua đời.

    Lúc đó tôi đă xuất cảnh sang Bỉ (1985). Tin cậu Tám mất làm tôi buồn vô hạng, nhớ công ơn cậu đă nuôi chúng tôi ăn học, tôi bùi ngùi xúc động, không cầm được nước mắt.

    Tôi nghĩ là nếu cậu Tám thấu hiểu cái chính sách của Cộng Sản là thâu gồm tất cả những phương tiện in và phổ biến những ǵ chúng muốn phổ biến để nhồi sọ con người th́ cậu đă không buồn đến đổi.

    Dầu sao th́ việc Cậu không phải xa ĺa quê hương và an nghỉ bên cạnh mộ mợ Tám ở núi Sam là việc tốt đẹp, an lành của đời người.

    Cô Dượng Trường có người con trai lớn là Lê Chí Trường Thịnh vợ là Trần Vân Kim, con nhỏ là Lê Thị Mỹ Lan.

    Lúc chúng tôi c̣n lo việc mua bán ỏ Bruxelles, cháu Thịnh có đến thăm chúng tôi 2 lần. Lúc đó cháu ở Hoa Kỳ đi tập sự tại Londres. Cháu đi châu du nhiều nơi ở Âu Châu.

    Về sau tôi mới biết cháu là người con hiếu thảo của gia đ́nh, cháu trợ cấp cho 2 người cậu c̣n lại ở Châu Đốc sống an nhàn.

    Cháu Thịnh là người trí thức cao cấp của gia đ́nh họ Nguyễn, cháu học đỗ Tiến Sĩ Điện Toán (Master informatique) hiện có việc làm ở California.

    Cháu Thịnh có tinh thần gia tộc (esprit de famille). Tôi tin là trong tương lai cháu sẽ chững chạc thay thế người mẹ là Cô Vui trong vai tṛ đầu đoàn của gia đ́nh cậu Tám ở hải ngoại.

14)        Chú TấnChú Vĩnh là 2 người con trai chót của Cậu Mợ Tám Châu Đốc. Hai chú ở độc thân, thủ ngôi nhà ngói rộng lớn của gia đ́nh trên đầu lộ Núi Sam gần Cầu Đúc.

    Cậu Mợ Tám là gia đ́nh có gia thế vững chắc và có tiếng tăm ở Châu Đốc. Cái ư định di cư không thành của hai chú trước kia là việc tốt, các chú ở đây thích hợp và an nhàn hơn là cuộc sống di cư ở Hải Ngoại.

    Chú Tấncán sự kiến trúc. Chú đăm nhiệm không vụ lợi về công trường xây cất chánh điện Miếu Bà ở núi Sam.

    Vai tṛ của hai chú trong vấn đề hương hơa của gia đ́nh họ Nguyễn rất là quan trọng, v́ hai chú đại diện chi nhánh Cậu Mợ Tám ở lại chổ Vĩnh Trinh.

    Các chú tham gia việc điều hành hương hơa không phải v́ quyền lợi cá nhân mà v́ sự đoàn kết chung. Vă lại chú Tấn rất am hiểu về nhiệm vụ của người thừa kế tức là nhiệm vụ của Ông TừPhủ Thờ.

    Đến đây tôi kết thúc việc kiểm điểm của gia đ́nh cá nhân trong khung cảnh đại gia đ́nh họ Nguyễn.

    C̣n 2 tiểu gia đ́nh khác ở hải ngoại là gia đ́nh chú thím Nguyễn Văn Lực, Lê Hồng Hạnh, trong chi nhánh Cậu Mợ Tám và gia đ́nh 2 cháu Nguyễn Thiện Chiến, Vơ Thị Mai, chi nhánh Cậu Mợ Ba, con trai lớn anh chị Cầu, hiện đă an cư lạc nghiệp tại miền Tây Bắc Hoa Kỳ mà tôi chưa   dịp đi tới nên chưa có chi tiết.

    Kết Luận  

    Sau khi tŕnh bày thực trạng các gia đ́nh cá nhân thế hệ 3, tôi xin nêu lên bản tổng kết về cấp bực khoa bảng hoặc chức vụ của các thành viên gia tộc trong bưóc thang xă hội.

    Những cấp bực hoặc chức vụ này tôi đă nói qua trong bản tổng kết gia đ́nh cá nhân nhưng đây là tổng kết chung.

    Bản tổng kết cấp bực khoa băng và chức vụ:

         4 cán sự kiến trúc

         7 kiến trúc sư

         1 cán sự điện lực

         2 kỹ sư cơ khí

         2 tiến sĩ điện toán

         2 bác sĩ

         1 dược sĩ

         1 kỹ sư hóa học

         3 sĩ quan

         2 trưởng ty

         1 phó khoa trường đại học kiến trúc

         1 giáo sư trường hoa thất kiến trúc

         1 giáo sư chủ nhiệm Bộ Môn Quy Hoạch

         1 giáo sư sinh ngữ

    Tổng cộng 30 cấp bực hoặc chức vụ

    Ghi chú: một người có thể đăm nhiệm nhiều chức vụ.

    Bản tổng kết này gồm có 25 người với 30 cấp bực hoặc chức vụ, bằng khoảng 12% tổng số thành viên lớn nhỏ trong gia đ́nh và như vậy xác nhận một cách trung thực chiều hướng trí thức của gia tộc.

    Khung cảnh đại gia đ́nh họ Nguyễn trong cùng ngoài nước, mọi người đều có đời sống ổn định, an cư lạc nghiệp ngoại trừ một số nhỏ gia đ́nh bất hạnh v́ định mệnh không tốt, một gia đ́nh duy nhất v́ nghèo túng.

    Trong hướng phát triển chung có một hướng mới hiện lên đày tương lai, đó là hướng kinh doanh thương mại của một số nhỏ gia đ́nh như anh chị Cầu và các con với 2 nhà hàng ăn đông khách ở Đức Quốc, gia đ́nh chú thím Tống và các con trong những xí nghiệp dịch vụ ở tiểu bang VA Hoa Kỳ, gia đ́nh các cháu Đoàn Phát Minh, Nguyễn Thị Kim Xuyến với cửa hàng vật liệu xây dựng tại G̣ Vấp ở Việt Nam.

    Hướng phát triển mới này cần được mở mang phát triển mạnh hơn để cân bằng với chiều hướng trí thức đă có từ lâu.

    Với những sự nghiệp đă kể trên, tôi có thể nói lên một niềm vui chung là chúng ta nên tự hào là người của gia đ́nh họ Nguyễn. Chúng ta nối nghiệp Ông cha một cách xứng đáng, thể hiện sự tồn tại vững chắc của gia đ́nh. Chúng ta đă thực hiện khu mộ Rạch Cui, chúng ta bắt đầu tu bổ, xây cất Phủ Thờ. Tôi rất lạc quan trong hướng phát triển tương lai đó.

    Nhưng, tất cả mọi việc đều có cái nhưng, chúng ta đang bị đe dọa bởi một bất trắc tan ră. Cái hiểm họa đó từ đâu ra? Nó từ bản chất bẩm sinh của chúng ta phát triển trong sự chống đối giữa quyền lợi cá nhânquyền lợi chung.

    Tôi cố gắng tŕnh bày một cách khách quan những sự việc xảy ra như sau: người thừa kế hương hơa trong gia đ́nh Trưởng tộc là anh Nguyễn Thiện Cầu. Anh nhường quyền đó cho người em giữa là anh Nguyễn Văn Điển.

    Anh Sáu Điển có công ǵn giữ Phủ Thờ trong giai đoạn biến đổi của thời cuộc. Nhưng anh Sáu có 4 người con gái chớ không có con trai. Tất cả gia đ́nh con rể  anh đều có cháu.

    Hiện nay vấn đề thừa kế hương hơa đang được đặt ra. Nếu anh chị Sáu có con trai nối nghiệp th́ không có vấn đề ǵ hết. Vấn đề con gái đối với việc thừa kế hương hơa đă được giăi quyết theo truyền thống gia đ́nh lúc Cậu Ba c̣n sanh tiền. Đó là việc chị Hai Nguyễn Thị Điệt, con gái lớn cậu mợ Ba, chị không được gia đ́nh cho thừa kế hương hơa v́ chị là con gái, mà gia đ́nh đương nhiên chỉ định anh Tư Nguyễn Thiện Cầu kế nghiệp thờ cúng Ông Bà.

    Bây giờ đại đa số người trong gia đ́nh đều có ư định tiếp tục hương hơa theo tục lệ từ ngàn xưa của Việt Nam, tức là việc anh Sáu Điển phải nhường quyền thừa kế cho người phái nam của gia đ́nh họ Nguyễn đăm nhận.

    Sự việc đă xảy ra một cách hùng hồn quyết định khi chị Năm Nguyễn Thị Quang, con gái cậu mợ Ba, đă ra lịnh phá bỏ 3 cái nền nhà do anh Sáu Điển đắp lên trước Phủ Thờ để chia cho con rể anh chị.

    Một việc khác rất quan trọng là việc gia đ́nh đă lập nên một văn bản gọi là định hướng về quản lư và tôn tạo khu Phủ Thờ với chữ kư tên ủng hộ của đại đa số thành viên thế hệ 3 và 4 của gia đ́nh (năm 2000) ghi rơ những điều kiện mà người thừa kế hương hơa là anh chị Sáu Điển phải tôn trọng trong việc nối tiếp thờ cúng.

    Đây là văn kiện đầu tiên có giá trị về việc điều hành tập thể mà mọi người điều thỏa thuận kư tên ngoại trừ 2 người là anh Cầuanh Sáu Điển. Các anh đă ra mặt chống đối. Có thể các anh muốn lợi dụng cái luật lệ không công minh của Cộng Sản để dành lợi thế chăng?

    Một hiểm họa khác có thể đe dọa sự tồn tại của gia đ́nh là t́nh trạng suy thoái, xuống cấp của Phủ Thờ, Nhà này đă được xây cất cách nay hơn một trăm năm (132 năm). Cột kèo, sườn nhà bị mọt mối đục khoét.

    Đến lúc nào đó, nhà sẽ sụp đổ không thể tránh. Nếu các thế hệ sau không có khả năng xây cất lại Phủ Thờ th́ gia đ́nh sẽ tan ră. Cái hiểm họa này đă làm biết bao gia đ́nh địa chủ không c̣n nữa.

    Do đó, chúng ta nên cứu xét việc tu bổ hay xây cất Phủ Thờ một cách toàn diện, tránh việc tu bổ, chấp nối từng phần lũng cũng, không ăn khớp nhau.

    Tôi có nhận được thơ anh Cầu kêu gọi anh em gia đ́nh giúp anh Sáu giữ vững Phủ Thờ cho đến khi anh Sáu chết. Tôi cũng được thơ anh Sáu cho biết mái nhà thờ bị mưa dột và cần sữa chữa.

    Tôi hoàn toàn tán thành những việc đó.

    Tôi đă viết thơ cho anh Sáu biết là tôi sẽ tham gia sữa chữa Phủ Thờ với tư cách cá nhân, vô điều kiện.

    Sau đó tôi được thơ của Thọ, của chú Tống, của chú Tấn, tất cả đều nói rơ về ư đồ chia rẽ v́ quyền lợi cá nhân của anh Cầu và anh Sáu Điển, tất cả đều yêu cầu tôi xét lại ư định của tôi trong vấn đề tu bổ Phủ Thờ.

    Tôi nghĩ là vấn đề nguyên tắc tham gia của tôi đă hứa th́ tôi không thể thay đổi được, nhưng công việc c̣n ở trong giai đoạn chuẩn bị, chưa khởi công th́ tôi có thể đề nghị một tổ chức chặt chẽ chớ không phải làm một cách làm đơn sơ như khu mộ được. Tôi cũng có thể trở lại vấn đề mỡ rộng khu mộ với Thọ và để kinh phí vào việc hoàn thành phía mở rộng, như vậy th́ việc tu bổ hoặc xây cất mới Phủ Thờ, không có sự tham gia cá nhân của tôi mà phải có sự gây quỹ chung của tập thể.

    Đây là một trở ngại lớn v́ anh Cầu và anh Sáu Điển không chấp nhận việc gây quỹ chung tức là cái tranh chấp giữa cá nhân hay tập thể.

    Việc tu bổ Phủ Thờ, thay mái ngói là một công tác nhỏ, có thể anh Sáu Điển sẽ được anh Cầu trợ cấp qua sự tiếp xúc của Nguyễn Thiện Công ở Đức.

    Nhưng việc lớn hơn như vấn đề xây cất mới toàn bộ Phủ Thờ sau khi xây cất cũ bị sụp đổ th́ không biết sẽ ra sao? Cho nên anh Cầu hy vọng là Phủ Thờ sẽ đứng vững cho đến hết thời anh Điển. Đó là một giải pháp dời bài toán lại để các thế hệ sau giải quyết. Việc đó cho thấy là anh Cầu tránh né vấn đề, theo anh th́ sau khi các thế hệ lớn tuổi không c̣n nữa th́ nhóm con rể của anh Sáu Điển sẽ ra tay làm thịt Phủ Thờ như việc đă làm.

    Đến đây tôi tạm ngừng tiểu sử gia đ́nh họ Nguyễn để kiểm điểm những thành quả mà gia đ́nh đă gặt hái được và để dự đoán cái tương lai mà gia đ́nh có thể sẽ đi tới.

    Bắt đầu từ con số không, bây giờ gia đ́nh đă có một số văn kiện căn bản như Bộ Gia Phả năm 2000, tuy c̣n thiếu một ít tài liệu nhỏ nhưng có thể nói đây đă có đầy đủ tên họ, thế hệ, và sự liên hệ với nhau của các thế hệ.

    Kế đó là bản Định hướng về quản lưtôn tạo Phủ Thờ có những chử kư của đa số các thế hệ thành viên của gia đ́nh, quy định những điều lệ về thừa kế hương hơa của anh Nguyễn Văn Điển. Hai văn kiện kể trên là kết quả của việc làm tập thể thành viên gia đ́nh.

    Những việc làm thực tế th́ có sự khởi đầu h́nh thành khu mộ Rạch Cui với một mặt bằng nhỏ hẹp méo mó nhưng đă có ṿng rào tạm và nền đất bằng phẳng, việc mở rộng khu mộ c̣n đang tiến hành nhưng khó khăn hơn.

    Kế đó là tại Phủ Thờ th́ anh Điển đă thực hiện việc thay mái ngói của xây cất cũ. Việc làm tạm bợ, lủng củng này là cần thiết để ở, anh Điển làm hoàn toàn cá nhân, không có chương tŕnh xây cất toàn bộ Phủ Thờ.

    Phía đa số đối lập hoàn toàn tán thành những việc đă thực hiện xong nói trên như cái kết quả của sự đoàn kết chung trong đại gia đ́nh mà công đầu có thể nói là do nơi anh Cầu với trách nhiệm của gia đ́nh trưởng tộc.

    Nhưng phía đa số đối lập không chấp nhận cái hậu ư đen tối, bất chánh của anh khi các anh xem của hương hơa là của riêng có thể chia sẻ phân phối cho con rể anh Điển.

    Việc các anh cho đấp 3 cái nền nhà trước Phủ Thờ đă bị phản ứng gia đ́nh và chị Năm Quang dẹp tan, nếu không th́ gia đ́nh họ Nguyễn đă bị nhận ch́m và tan ră rồi.

    Cái hiểm họa tan ră vẫn hiện lên to lớn khi nào anh Cầu c̣n kiên tŕ trong ư định xé tan gia đ́nh để dành của riêng. Việc chống đối nội bộ có thể đi tới việc thưa kiện tốn kém để chánh quyền phân xử. Thắng bại cũng chưa biết sẽ về ai? Việc dựa vào chánh sách của chánh quyền Cộng Sản để cầu thắng là một hy vọng bấp bênh, mọi việc đều tiến triển, thay đổi chánh sách cũng vậy. Dầu cho phía thiểu số anh Cầu, anh Điển có toàn thắng đi nữa th́ cái lợi thắng cuộc rất nhỏ nhoi, không đáng kể, không thế nào mà đấp được cái mất mát về tinh thần to lớn.

    Nếu ṭa án không công nhận hương hơa, xử di sản trở thành di sản thông thường th́ việc phân chia di sản cho các chi nhánh thế hệ 2 và 3 (xem gia phả) trong đó có anh Điển chỉ bằng 1/12 của đất hương hơa th́ thật là nhỏ nhoi, không bù đấp đủ sự tốn kém chi phí và cái mất mát về tinh thần thật to lớn không lường được.

    Chúng ta trở lại cái kết luận của tương lai gia đ́nh họ Nguyễn. Sau khi cân nhắc sự hơn thiệt của mọi giải pháp áp dụng th́ có giải pháp nào lợi hơn một, sự thỏa thuận chung để vung đắp sự tồn tạibền vững của đại gia đ́nh trong tinh thần gia tộc mà Ông Bà đă truyền dạy chúng ta. Hy vọng là sự phục hưng sẽ là cái kết quả chung cuộc của gia đ́nh họ Nguyễn.

                               Hồi Kư của Huỳnh Kim Măng

                               viết xong trước năm 2000

 

Phụ Bản

Hương hỏa

Tiểu sử gia đ́nh họ Nguyễn tại Vĩnh Trinh – Long Xuyên

Định nghĩa danh từ trong việc Thờ Cúng và hương hỏa

Hương hỏa

    Hương hỏa là ǵ? Hương à nhang, Hỏa là lữa. Hương hỏa là nén hương đang cháy, là thờ cúng Ông Bà. Đó là tục lệ, truyền thống lâu đời của VN.

    Dưới thời Pháp thuộc, người Pháp công nhận chánh thức việc thờ cúng, như một tôn giáo của xă hội VN cũng như Phật Giáo hay Thiên Chúa Giáo hoặc Cao Đài v.v..

    Vấn đề hương hỏa phải được ghi nhận trên bằng khoán đất như một di sản chung của gia đ́nh có hương hỏa.

    Việc thờ cúng là một sinh hoạt thường ngày của mọi gia đ́nh, nhưng không phải gia đ́nh nào cũng có hương hỏa. Chỉ có một số ít gia đ́nh xem trọng việc thờ cúng Ông Bà mới đặt vấn đề hương hỏa.

    Gia đ́nh hương hỏa phải có tài sản: nhà và đất đai. Phần di sản hương hỏa không được nhiều hơn một phần di sản thông thường khác của gia đ́nh.

    Thí dụ: một gia đ́nh có 6 người con: 3 trai, 3 gái th́ chia gia sản chung gồm 7 phần bằng nhau gồm có, 6 phần gia sản thông thường và một phần di sản hương hỏa.

    Người kế thừa hương hỏa phải là con trai trưởng nam hoặc con trai út. Như vậy người thừa kế có 2 phần gia sản: 1 phần là gia sản thông thường cộng với 1 phần là di sản hương hỏa.

    Gia sản thông thường là của riêng của người thừa kế, c̣n di sản hương hỏa là của chung, của mọi người trong gia đ́nh. Người thừa kế chỉ có quyền quản lư và hưởng huê lợi di sản hương hỏa chớ không được chia sẽ, phân phối hoặc mua bán hay cho thuê bằng mọi h́nh thức mà phải giữ nguyên vẹn di sản hương hỏa (xem bản Định Hướng về quản lư và tôn tạo Phủ Thờ tại Vĩnh Trinh..)

    Người thừa kế hương hỏa phải là phái Nam họ Nguyễn chớ không được phái Nữ. Trường hợp không có người thừa kế th́ đại gia đ́nh phải t́m giải pháp thay thế với sự quyết định của tập thể.

    Đó là cái tục lệ và truyền thống đă áp dụng trong gia đ́nh cho đến 30-4-1975.

 

Chánh nghĩa

    Chánh nghĩa là đúng với nghĩa vụ chung. Đó là nghĩa vụ của chúng ta đối với đại gia đ́nh để làm thế nào cho được trọn vẹn đối với sự mong đợi của Ông Cha chúng ta.

    Ông Bà chúng ta chắc chắn muốn con cháu được đoàn kết sinh hoạt trong việc thờ cúng chung để vung đấp cho gia đ́nh được tồn tạibền vững lâu dài. Đó là con đường chính đáng, con đường lẽ phải của gia đ́nh, là cái chính nghĩa của chúng ta.

    Con đường trái ngược với chánh nghĩa là con đường bất chánh tức là những hành động sai lầm, u ám có thể đem tới sự suy yếu và tan ră gia đ́nh họ Nguyễn.

    Thí dụ: trong đại gia đ́nh họ Nguyễn th́ gia đ́nh trưởng tộc có trách nhiệm thừa kế và điều hành hương hỏa. Đó là gia đ́nh chi nhánh 2 (xem Gia Phả) của Cậu Mợ Ba Nguyễn Kim Âu do anh Nguyễn Thiện Cầu nối tiếp và đại diện.

    Anh Cầu đă nhường việc thừa kế hương hỏa cho anh Nguyễn Văn Điển, nhưng cái trách nhiệm chánh nghĩa của anh Cầu vẫn c̣n đó. Anh cầu phải lo giữ ǵn sự tồn tại và bền vững của gia đ́nh, nhưng ngược lại anh đă có hậu ư bất chánh, lấy của chung làm của riêng, như vậy anh sẽ nhận ch́m và dập tắt gia đ́nh họ Nguyễn. Thật đáng tiếc.

 

Từ đường

    Từ đường là nơi ở của ông Từ và nơi thờ cúng Ông Bà trong gia đ́nh (Phủ Thờ). Người miền Trung gọi Phủ Thờ là Từ Đường là 2 danh từ cùng một nghĩa.

    Từ đường không phải là của riêng của ông Từ cũng như trong đ́nh làng th́ ông Từ không phải là chủ nhân của ngôi đ́nh.

    Trong gia đ́nh chúng ta th́ Ông Từ là người thừa kế hương hỏa suốt đời. Người này chỉ có quyền nhường việc thừa kế của ḿnh cho con trai họ Nguyễn.

    Nếu người thừa kế không có con trai nối nghiệp th́ việc nối tiếp hương hỏa phải do sự quyết định chung của mọi người trong gia đ́nh (xem đề nghị Tổ chức nội bộ gia đ́nh họ Nguyễn).

Lương thiện

    Gia đ́nh chúng ta có tiếng là một gia đ́nh lương thiện ở địa phương Vĩnh Trinh. Ông Bà chúng ta không phải là ‘cường hào ác bá’, cũng không phải là chủ điền bóc lột tá điền.

    Trong cái xă hội phức tạp hiện nay th́ chúng tan nên giữ cái truyền thống lương thiện tốt đẹp đó hay không.

    Tôi đọc báo hải ngoại có nói là người Việt Nam di cư nên biết là yếu tố thành công trong việc làm ăn mua bán là sự cần cù lao động và cái lương thiện của con người. Như vậy lương thiện vẫn c̣n là yếu tố có giá trị ngoài đời.

    Dầu sao chúng ta cũng phải lưu ư đề pḥng những kẻ bất lương, thủ đoạn vốn rất đông đảo ngoài đời.

    Đối với gia đ́nh th́ chúng ta rất tiếc là hiện có một số thành viên đă đem cái thủ đoạn bất lương ngoài đời đó đối xử với người thân thích trong gia đ́nh.

    Chúng ta hy vọng đó là một h́nh tượng giao thời sẽ biến mất một khi gia đ́nh trở nên lành mạnh và vững vàng hơn.

 

Chết là hết, là tro bụi th́ c̣n biết ǵ?

    Đó là câu nói của tiền nhân gia đ́nh để lại mà một người đă làm theo và lấy đó làm một triết lư ở đời cho chính ḿnh.

    Câu nói đó là do nơi cậu Ba Nguyễn Kim Âu và người làm theo là anh Nguyễn Thiện Cầu.

    Với sự kính trọng bẫm sinh của con cháu gia đ́nh đối với Cha Ông, chúng tôi cẩn thận phân tách và t́m hiểu cái ư nghĩa của câu nói trên và cái hậu quả của việc áp dụng câu đó.

    Khi nói chết là hết, chết là tro bụi th́ rất đúng đối với cơ thể vật chất của chúng ta, đó là cái tiêu tan của mọi vật sau khi chúng ta nằm xuống đất.

    Câu nói kế tiếp là “th́ c̣n biết ǵ” thuộc về tinh thần và có ư nói rằng ta không c̣n biết ǵ nữa. Việc đó đúng hay không th́ không ai biết được v́ không ai liên lạc được với thế giới của người quá văng.

    Nhưng việc đó đều thuộc phạm vi thể xác và tính của người chết chớ không có liên hệ ǵ đến những người c̣n sống chung quanh người quá văng như vậy câu đó không có tách cách bao quát.

    Sau khi chúng ta chết th́ c̣n biết bao nhiêu người, biết bao nhiêu thế hệ sau chúng ta sẽ nhớ đến những ǵ mà chúng ta đă làm lúc sanh tiền và những việc đó hiện đang có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ.

    Một thí dụ: Trong tiểu sử gia đ́nh họ Nguyễn chúng ta có nói Bà Ngoại (Cao Thị Hiệp) là một người đàn bà phi thường v́ một tay Bà đă dựng lên sự nghiệp của gia đ́nh họ Nguyễn. Mặc dầu Bà đă qua đời hơn 60 năm nay (1938) nhưng chúng ta vẫn c̣n nhớ ơn Bà.

    Một kỹ niệm tốt đẹp khác là trường hợp Cậu Tám Nguyễn Văn KhươngChâu Đốc. Chúng ta có nói là Cậu có công phá lũy tre xanh để đưa chúng ta vào con đường học vấn để bay nhảy với đời mà hiện giờ sau gần 40 năm quá văng, chúng ta vẫn c̣n nhớ và ghi ơn Cậu.

    Đối với chúng ta hiện nay th́ việc mà chúng ta đă làm hoặc sẽ làm không phải là hết mà c̣n lại đời đời trong trí nhớ của con cháu chúng ta mặc dầu khi chúng ta làm việc đó th́ không khi nào chúng ta nghỉ đền cái hậu quả xa xăm đó.

    Một kỹ niệm không tốt đẹp khác là hiện nay đang có một hiểm họa tan ră đại gia đ́nh họ NGuyễn mà người chủ mưu có thể là một người bất thường phá tan cái sự nghiệp của Bà Ngoại.

    Tôi không nêu danh người đó là ai v́ tôi không có quyền và không muốn phê phán bất cứ ai trong gia đ́nh mà tôi nhường cái suy xét đó cho các thế hệ sau biết đó là ai. Tôi vẫn hy vọng là cái tiếng xấu muôn đời đó sẽ là một sự tưởng tượng không có thật, do cái kết quả chung cuộc của tương lai gia đ́nh họ Nguyễn cho thấy.

    Trở lại cái triết lư ở đời sau câu nói của Cậu Ba “chết là hết” th́ chúng ta nên cẩn thận để tránh cái sai lầm tai hại khi áp dụng nó. Chết không phải là hết, không phải là tan biến hết, cho nên cái lư luận cho rằng trước khi chết th́ chúng ta cứ tung hoành làm những việc đen tối, bất lương là không đúng.

    Một lư luận khác cho rằng gia đ́nh họ Nguyễn sẽ tan ră theo cái định luật mọi việc đều chấm dứt biến đổi cũng như nhiều gia đ́nh to lớn và bề thế hon gia đ́nh họ Nguyễn mà c̣n tan ră th́ chúng ta cho nó chấm dứt quách đi chớ c̣n giữ nó tồn tại để làm ǵ là một sai lầm tai hại. Cũng như mọi người đều biết là con người mấy ai qua trăm tuổi th́ bây giờ chết phức đi cho xong kiếp có phải không?

    Câu nói chết là hết có thể áp dụng để làm những việc trái ngược nhau th́ tại sao chúng ta không xem đó phương châm để làm việc tốt đẹp cho đại gia đ́nh chúng ta?

    Hy vọng cái tương lai sẽ là như vậy.